Bình luận Bộ luật hình sự phần chung - Chương III: Tội phạm

Bộ luật hình sự Chương III: TỘI PHẠM

Điều 8. Khái niệm tội phạm

1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

Bình Luận:

Từ khái niệm nêu trên ta xác định được các yếu tố cấu thành của tội phạm, bao gồm:
  1. Hành vi nguy hiểm cho xã hội.
  2. Yếu tố có lỗi.
  3. Do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện.
  4. Xâm phạm các mối quan hệ được quy định tại Bộ luật hình sự.
Do vậy không phải mọi hành vi đều cấu thành tội phạm mà chỉ khi hành vi đó thỏa mãn đồng thời 4 yếu tố nêu trên thì mới xác định có tội phạm xảy ra.
Khái niệm tội phạm theo quy định trên có nhiều điểm mới so với khái niệm tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (gọi tắt là Bộ luật hình sự 1999). Cụ thể:
  • Tăng cường chủ thể chịu trách nhiệm hình sự. Nếu trước đây chủ thể của tội phạm chỉ có thể là cá nhân thì hiện nay đã có thêm chủ thể mới là các pháp nhân thương mại. Hai chủ thể này có đặc điểm hoàn toàn khác nhau, chính vì vậy mà trách nhiệm hình sự của họ cũng khác nhau. Điều này thể hiện ở chỗ, cá nhân khi thực hiện hành vi phạm tội thì các loại hình phạt được áp dụng theo quy định tại Điều 32 (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình….), pháp nhân thương mại khi phạm tội thì được áp dụng một số loại hình phạt mang tính riêng biệt phù hợp với đặc điểm chủ thể quy định tại 33 tội danh cụ thể. Xem xét các loại tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, chúng ta dễ dàng nhận thấy chỉ đối với một số hành vi liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại, thuế, tài chính, môi trường…thì mới quy định trách nhiệm hình sự.
  • Tinh gọn các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Cụm từ “xâm phạm quyền con người” đã thay thế cho “xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản”. Cách quy định này trước hết làm cho khái niệm tội phạm đảm bảo được tính ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn khái quát được toàn bộ các quan hệ mà pháp luật hình sự phải can thiệp. Thay vì theo cách liệt kê, dự liệu chi tiết từng mối quan hệ thì đến đây các nhà làm luật đã nhìn nhận một cách tổng thể hơn, khái quát hơn, khắc phục nhược điểm, tư tưởng liệt kê mà bấy lâu nay vẫn áp dụng. Phương pháp liệt kê trong Bộ luật hình sự 1999 có ưu điểm là chỉ điểm cụ thể các quan hệ hay nói cách khác là xác định đích danh, tuy nhiên phương pháp này không mang tính bao quát. Việc quy định cụm từ quyền con người là phù hợp với hiến pháp 2013 của nước CH XHCN Việt Nam. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử chúng ta ghi nhận một cách trân trọng về quyền con người tại một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất. Tiếp nối sự khẳng định trong việc tôn trọng, thừa nhận và bảo vệ quyền con người mà Bộ luật hình sự sửa đổi đã có cách ghi nhận mới. Do vậy việc ghi nhận như hiện nay là hoàn toàn phù hợp, đúng đắn trong tiến trình hội nhập quốc tế, Nhà nước đã sử dụng công cụ mạnh mẽ nhất để bảo vệ quyền con người.
  • Xác định lại phạm vi chịu trách nhiệm hình sự: Khái niệm tội phạm thể hiện rất rõ một chủ thể chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi và chỉ khi xâm phạm các mối quan hệ mà theo quy định Bộ luật hình sự hành vi đó phải bị xử lý. Chính vì vậy mà khi một hành vi xảy ra trên thực tế, bên cạnh xác định các yếu tố cấu thành khác thì chúng ta phải xác định hành vi đó có cấu thành một trong các loại tội phạm được thể hiện trong Bộ luật này hay không. Mặc dù một hành vi có xâm phạm đến một mối quan hệ xã hội nhất định nhưng không thuộc phạm trù được liệt kê tại phần các tội phạm thì đương nhiên hành vi này không phải chịu trách nhiệm hình sự, có chăng nó sẽ cấu thành một trách nhiệm pháp lý khác như trách nhiệm hành chính, dân sự. Bộ luật hình sự 1999 chưa thực hiện được điều này và từ đó tạo ra sự nhầm lẫn, mâu thuẫn trong chính khái niệm cũng như trong từng loại tội phạm nhất định.
Một hành vi khi thỏa mãn được 4 yếu tố nêu trên thì cấu thành tội phạm. Tuy nhiên xét yếu tố về tính nguy hiểm cho xã hội mà pháp luật có thể loại trừ nó ra khỏi các biện pháp chế tài của Bộ luật hình sự hay nói cách khác hành vi đó không phải chịu trách nhiệm hình sự, nó sẽ được xem xét ở các trách nhiệm pháp lý khác như hành chính hay dân sự. Như vậy một câu hỏi được đặt ra là mức độ nguy hiểm của một hành vi được xác định như thế nào? Đây là một vấn đề rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến tính phải chịu trách nhiệm hình sự của một hành vi.
Để đánh giá một cách chính xác tính nguy hiểm của hành vi cần phải xem xét một cách tổng thể, đối chiếu qua lại giữa nhiều yếu tố khác nhau như: chủ thể thực hiện là ai, hoàn cảnh khi nào, ở đâu, hậu quả mà hành vi đó gây ra…có như vậy mới đưa ra được nhận định đúng đắn. Không có một khuôn mẫu, chuẩn mực nào để chúng ta có thể xác định ngay lập tức mức độ nguy hiểm của hành vi mà phải phụ thuộc nhiều vào sự đánh giá của các cơ quan điều tra, tố tụng. Để đảm bảo tính công bằng, đòi hỏi các cá nhân, cơ quan chức trách khi xem xét hành vi phải thật sự khách quan.
Như vậy, để đảm bảo một hành vi được xem là tội phạm thì cần phải đảm bảo các điều kiện sau:

Thứ nhất, phải là hành vi nguy hiểm, xâm hại đến các quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ và được quy định trong Bộ luật Hình sự.

Hành vi nguy hiểm cho xã hội là một trong các yếu tố của mặt khách quan, được hiểu hành vi đã gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Các quan hệ đó là: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Nếu thiệt hại gây ra hoặc đe dọa gây ra không đáng kể thì không phải hành vi nguy hiểm cho xã hội và không bị coi là hành vi phạm tội. Ví dụ: Trộm cặp tài sản lần đầu tiên mà tài sản có trị giá chưa đến 02 triệu đồng mà chưa gây hậu quả nghiêm thì không coi là tội phạm.
Việc đánh giá hành vi nào hành vi gây nguy hiểm cho xã hội phụ thuộc vào tình hình phát triển của xã hội và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Ví dụ: Nếu trước đây hành vi hoạt động phỉ là hành vi nguy hiểm cho xã hội thì nay Bộ luật Hình sự 2015 đã bỏ quy định này, thu hút về các cấu thành tội khác phù hợp hơn. Ngược lại, có những hành vi trước đây chưa được coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng nay lại là hành vi nguy hiểm xã hội. Ví dụ: Hành vi xâm phạm quyền ứng cử của công dân, trước đây chưa được coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nay hành vi này được coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Khi xác định một hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng tức là đã coi hành vi đó là hành vi phạm tội, tất nhiên người thực hiện hành vi đó có bị truy cứu hình sự hay không còn phải căn cứ vào yếu tố khác được quy định trong Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, không phải hành vi nguy hiểm nào cho xã hội cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Các hành vi nguy hiểm này phải là hành vi được quy định trong Bộ luật Hình sự hiện hành. Về mặt lý luận, nguyên tắc này nhằm gạt bỏ việc áp dụng nguyên tắc tương tự. Chỉ có Bộ luật Hình sự mới được quy định về tội phạm, ngoài ra, nếu không thỏa mãn hành vi được quy định trong Bộ luật Hình sự thì không được xem là tội phạm. 
Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 8 còn nêu rõ, hành vi phạm tội đó phải là hành vi gây ra nguy hiểm đáng kể, còn nếu gây ra nguy hiểm không đáng kể thì không được xem là tội phạm. Ví dụ: trong tội cố gây thương tích, thì hậu quả là thương tích gây ra, thì nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 thì hậu quả ở đây là phải gây ra thương tích từ trên 11% trở lên mới được xem là tội phạm.

Thứ hai, hành vi nguy hiểm cho xã hội phải do chủ thể theo quy định của Bộ luật hình sự thực hiện.

Chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng không phải ai thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng đều là chủ thể của tội phạm, mà chỉ những người hoặc pháp nhân thương mại có năng lực trách nhiệm hình sự mới là chủ thể của tội phạm.
Bộ luật Hình sự không quy định cụ thể các trường hợp được coi là có năng lực trách nhiệm hình sự mà chỉ quy định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Trong các điều luật cụ thể, một vài trường hợp cũng sẽ nhắc đến độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự này. Tuy nhiên, độ tuổi để có năng lực chịu trách nhiệm hình sự này không được quy định cố định, mà tùy vào từng trường hợp sẽ quy định bắt buộc người thực hiện hành vi phạm tội tại độ tuổi đó phải nhận thức được và điều khiển được hành vi của mình. Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự sẽ được quy định chi tiết và cụ thể tại Điều 12 Bộ luật hình sự.
Ngoài ra, trong một số trường hợp chỉ một hoặc một số người mới là chủ thể của tội phạm, những trường hợp này được xem là chủ thể đặc biệt trong bộ luật Hình sự. Ví dụ: Chỉ người mẹ đẻ mới là chủ thể của tội giết con mới đẻ. Còn nếu không phải mẹ đẻ mà là người khác thì sẽ là tội giết người. Trường hợp này được xem là chủ thể đặc biệt. Ngoài ra, chỉ người có chức vụ quyền hạn mới là chủ thể của các tội có chức vụ quyền hạn, trường hợp này loại trừ các trường hợp đồng phạm cùng thực hiện hành vi.

Thứ ba, chủ thể thực hiện hành vi tội phạm phải có lỗi dưới dạng vô ý hoặc cố ý.

Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả của hành vi đó dưới hình thức cố ý hoặc vô ý.
Tuy nhiên, khi Bộ luật Hình sự 2015 quy định thêm chủ thể mới là pháp nhân thương mại thì việc định nghĩa lỗi không còn như trước nữa, mà phải bổ sung lỗi là thái độ tâm lý của một người hoặc một pháp nhân thương mại đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả của hành vi đó dưới hình thức vô ý hoặc cố ý.
Trên thực tế lỗi chỉ được xác định trên đối tượng là con người còn pháp nhân thương mại rất khó xác định lỗi trong trường hợp này. Để hiểu mặt lỗi của pháp nhân thương mại, cần phải hiểu pháp nhân thương mại hoạt động thông qua một hoặc một số người đại đại diện, như vậy, lỗi của pháp nhân thương mại chính là lỗi của người đại diện pháp nhân thương mại đó.
Khoa học luật hình sự coi lỗi là một dấu hiện thuộc mặt chủ quan của tội phạm. Nếu một hành vi nguy hiểm cho xã hội không bị coi là có lỗi thì người hoặc pháp nhân thương mại có hành vi nguy hiểm cho xã hội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì không đủ yếu tố cấu thành của tội phạm. Tội phạm là hành vi có lỗi, tính có lỗi là thuộc tính cơ bản của tội phạm, là cơ sở để buộc một người phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình hoặc của tổ chức mình và hậu quả của hành vi đó gây ra. Hiện nay, lỗi được quy định tại Điều 10, Điều 11 của Bộ luật Hình sự. 

Điều 9. Phân loại tội phạm

1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:
a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;
c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;
d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
2. Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều này và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này.

Bình luận:

Trước đây Bộ Luật hình sự 1999 đưa việc phân loại vào Điều 8 khái niệm tội phạm. Tuy nhiên quy định này vô hình dung gây ra sự nhầm lẫn về thuộc tính của tội phạm, cụ thể các loại tội phạm chỉ là việc phân hóa mức độ chịu trách nhiệm hình sự, là sự chi tiết hóa cho một hành vi khi bị xem là cấu thành tội phạm.
Việc phân loại tội phạm được xem xét dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Theo đó tùy vào mức độ mà áp dụng loại hình phạt tương thích, đảm bảo được tính răn đe cũng như yếu tố giáo dục. Ngay tại Điều 1 Bộ luật hình sự hiện hành, chúng ta đã nhận thức rõ được chức năng, nhiệm vụ của luật hình sự. Nó là công cụ hữu hiệu của giai cấp cầm quyền trong việc bảo vệ chế độ, bảo vệ các mối quan hệ trong xã hội, được sử dụng để nhằm răn đe, ngăn chặn, uốn nắn cũng như trừng phạt và giáo dục đối với các hành vi xâm phạm. Chính vì vậy mà việc phân loại tội phạm có ý nghĩa to lớn trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử. Trách nhiệm hình sự của các chủ thể vi phạm được xác định ngay tại giai đoạn đầu và từ đó định hướng được các chế tài xử lý phù hợp.
Tùy vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà tội phạm được pháp luật hình sự phân thành 4 loại như sau:
- Tội ít nghiêm trọng: là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm. Ví dụ: Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ tại Điều 124 Bộ luật Hình sự 2015.
Tuy nhiên, chính quy định trên đặt ra nhiều câu hỏi đối với các tội phạm có hình phạt cảnh cáo thì có được xem là tội ít nghiêm trọng không. Thì căn cứ vào hình phạt được áp dụng phần lớn vẫn đồng ý mặc nhiên cho rằng đây thuộc tội phạm ít nghiêm trọng. Ngoài ra, không nên hiểu một cách máy móc các hình phạt này để làm căn cứ xác định tội, ví dụ: đối với các tội có hình phạt là trục xuất thì nếu xếp theo thứ tự cao thấp thì trục xuất nặng hơn hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và nhẹ hơn hình phạt tù. Tuy nhiên, cần phải hiểu không phải như vậy để căn cứ xếp loại, phân loại tội phạm. Cần hiểu rằng trục xuất là một hình phạt nằm trong hệ thống hình phạt của Bộ luật Hình sự hiện nay, có đặc điểm riêng và chỉ áp dụng đối với tội phạm là người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam.
- Tội nghiêm trọng: là tội phạm có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định với tội ấy từ trên 03 năm đến 07 năm tù. Ví dụ: Tội lây truyền HIV cho người khác thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 148, Tội cưỡng dâm thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 143.
- Tội rất nghiêm trọng: là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt được quy định với tội ấy là từ 07 đến 15 năm. Ví dụ: Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 189; tội sản xuất, buôn bán hàng giả thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2, khoản 3 Điều 192,...
- Tội đặc biệt nghiêm trọng: là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đối với tội ấy là trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Ví dụ: Tội phản bội Tổ quốc thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 108; tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 123,..
Sự phân hóa các loại tội phạm được thực hiện theo tính chất nghiêm trọng tăng dần và tương ứng với đó là loại hình phạt và mức khung hình phạt cũng tăng dần. Nếu trước đây việc phân loại hình phạt và khung hình phạt để áp dụng cho mỗi loại tội phạm được thực hiện theo phương thức áp mức tối đa thì hiện nay các nhà làm luật đã liệt kê một cách chi tiết, rõ ràng giúp việc vận dụng luật được thuận tiện hơn.
Phân loại tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quy định các nguyên tắc xử lý, quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thời hiệu thi hành bản án và các quy định khác về điều kiện áp dụng một số loại hình phạt hoặc biện pháp tư pháp,.. Phân loại tội phạm còn là cơ sở để cụ thể hóa trách nhiệm hình sự, quy định khung hình phạt, đảm bảo nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt. Ngoài ra, việc phân loại tội phạm còn có ý nghĩa đối với việc quy định một số chế định tạm giam, tạm giữ trong Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại khoản 2 Điều 9 có quy định về phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại. Trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội không quy định hình phạt tù, chỉ có phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Do đó, không chỉ căn cứ vào khung hình phạt mà còn căn cứ vào từng tội phạm cụ thể do pháp nhân thương mại thực hiện để phân chia tội phạm đối với pháp nhân phạm tội. Đối với pháp nhân phạm tội tuy không áp dụng hình phạt tù nhưng các tội mà pháp nhân thương mại bị truy cứu trách nhiệm hình sự cũng là những tội phạm mà người phạm tội có thể phạm và tội đó cũng có khung hình phạt. Chính vì vậy mà nhà làm luật mới quy định: “căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều này và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này.
Ví dụ: Nếu pháp nhân thương mại phạm tội buôn lậu quy định tại Điều 188 thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 là tội ít nghiêm trọng, tại khoản 2 là tội phạm nghiêm trọng, khoản 3 là tội phạm rất nghiêm trọng, còn khoản 4 là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, mặc dù pháp nhân thương mại chỉ được áp dụng hình phạt tiền. Thuật ngữ “tương ứng” được sử dụng là như thế.

Điều 10. Cố ý phạm tội

Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:
1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;
2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Bình Luận

Chương III chủ yếu tập trung làm rõ các thành tố cấu thành tội phạm, như đã phân tích tại khái niệm tội phạm thì lỗi là một trong 4 yếu tố được đưa ra để xem xét đánh giá một hành vi đã xảy ra có phải là tội phạm hay không, nếu có thì mức độ như thế nào. Chính vì vậy mà việc nghiên cứu, phân loại các dạng lỗi đóng vai trò quan trọng trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Lỗi được chia ra làm lỗi cố ý và lỗi vô ý.
Ở điều này, các nhà làm luật đưa ra khái niệm về lỗi cố ý cũng như căn cứ để phân loại lỗi cố ý. Lỗi cố ý phạm tội được chia thành nhiều hình thức, nhiều trường hợp khác nhau. Việc phân chia hình thức của lỗi cố ý chỉ có ý nghĩa xác định mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Thông thường được chia làm 02 hình thức là cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp.
- Lỗi cố ý trực tiếp: được xác định dựa trên mức độ nhận thức của người thực hiện hành vi. Trong các loại lỗi thì lỗi cố ý trực tiếp thể hiện sự nhận thức và mức độ quyết tâm cao nhất của người thực hiện. Sự nhận thức được thể hiện dưới ba góc độ khác nhau, thứ nhất đó là nhận thức được mức độ nguy hiểm, nghĩa là người phạm tội nhận diện được hành vi mà mình đang hoặc sắp thực hiện sẽ gây ra nguy hiểm cho xã hội, sự nguy hiểm thể hiện ở chỗ nếu hành vi được thực hiện là nó sẽ xâm phạm đến một đối tượng cụ thể nào đó. Thứ hai nhận thức được hậu quả, người thực hiện hành vi bên cạnh nhận diện được mức độ nguy hiểm thì họ còn thấy được hậu của nó như thế nào, dự liệu được một cách chính xác và đúng đắn những hậu quả mà hành vi mang lại. Và không có việc người thực hiện hành vi sẽ mơ hồ, không xác định được hậu quả là gì, khi trong suy nghĩ người phạm tội nghĩ về một hành vi mà họ sẽ thực hiện thì đồng thời họ cũng đã thấy trước được hậu quả xảy ra, hai vấn đề này tiếp diễn liên tục, liền kề nhau và nhiều trường hợp thậm chí người phạm tội nghĩ đến hậu quả trước và tìm cách thực hiện hành vi tương ứng để hậu quả xảy ra như mong muốn. Thứ ba là nói đến tính quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng của người phạm tội “mong muốn hậu quả đó xảy ra”, sự mong muốn này biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng các đặc điểm như: không chấm dứt hành vi, thực hiện hành vi cho đến khi nào hậu quả xảy ra hay nói cách khác hậu quả chính là mục đích cuối cùng. Như vậy trong chuỗi nhận thức của người thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp chính là biểu hiện của ý chí và quyết tâm cao nhất trong các loại lỗi, đi từ suy nghĩ và hiện thực hóa đến hành động.
Ví dụ: A là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự cầm dao và đâm chết B, A thực hiện hành vi đến cùng cho đến khi B chết hẳn thì A mới bỏ đi. Trường hợp này A có đầy đủ nhận thức để biết hành vi của mình là hành vi nguy hiểm và vi phạm pháp luật, A cũng nhận thức được hành vi của mình sẽ làm chết B và A thực hiện, mong muốn hậu quả trên xảy ra.
- Lỗi cố ý gián tiếp: sự khác biệt cơ bản giữa lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp được thể hiện ở khía cạnh tâm lý người phạm tội. Hai loại lỗi này các chủ thể đều nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, đều nhận thức được hậu quả mà hành vi mang lại. Tuy nhiên với lỗi cố ý gián tiếp thì cần phải khẳng định, người phạm tội không hề mong muốn hậu quả đó xảy ra trên thực tế hay nói cách khác hậu quả không nằm trong kế hoạch hành động của họ. Việc hậu quả có xảy ra hay không không phải là đích đến cuối cùng. Sự bỏ mặc thể hiển ở việc người phạm tội không quan tâm, hậu quả xảy ra cũng được hoặc không xảy ra cũng được. Mục đích của người phạm tội đã có thể đạt được ở giai đoạn trước đó hoặc thực hiện hành vi nhưng lại hướng đến một mục đích khác.
Ví dụ: A và B vì mâu thuẫn nên đánh nhau, A đánh B bị thương, thấy B bị chém vào chân mất nhiều máu, không thể di chuyển được A bỏ về. Vì đoạn đường vắng, mất quá nhiều máu sau đó B tử vong.
Như vậy, để phân biệt cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp, cần dựa vào mặt ý thức của người thực hiện hành vi đối với hậu quả mà hành vi đó gây ra. Nếu mong muốn hậu quả xảy ra thì là cố ý trực tiếp, nếu không mong muốn hậu quả xảy ra thì đó là cố ý gián tiếp. Tuy nhiên khi xem xét, nghiên cứu về lỗi cố ý, nhiều quan điểm cho rằng việc phân loại lỗi cố ý thành lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp là không cần thiết. Bởi lẽ một người khi họ đã nhận thức được một cách đầy đủ về tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và thấy trước hậu quả xảy ra mà vẫn thực hiện thì cho dù họ có mong muốn hay không mong muốn thì hậu quả cũng đã xảy ra trên thực tế. Việc nhận thức đầy đủ nhưng vẫn thực hiện hành vi đã chứng tỏ một quyết tâm và ý chí của người phạm tội. Pháp luật hình sự nghiêm cấm các chủ thể xâm phạm đến các mối quan hệ được quy định trong bộ luật này, do vậy việc không hành động hoặc hành động để tránh xâm hại và bảo vệ các mối quan hệ đó là nghĩa vụ của mỗi cá nhân, tổ chức. Chính vì vậy, việc cho rằng không mong muốn hậu quả xảy ra trong khi đã nhận thức và dự liệu một cách chính xác hậu quả mà vẫn thực hiện hành vi là hoàn toàn không có cơ sở.
Ngoài ra, khoa học hình sự, khi nghiên cứu lỗi cố ý, còn chia ra nhiều hình thức khác nhau. Các hình thức đó là: Cố ý có dự mưu và cố ý đột xuất; cố ý xác định và cố ý không xác định. Cố ý có dự mưu là trường hợp trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người có hành vi đó đã suy nghĩ, tính toán cẩn thận mới bắt tay vào làm. Cố ý đột xuất là trường hợp một người vừa có ý định phạm tội đã thực hiện ngay ý định đó. Cố ý xác định là trường hợp trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm xã hội, người có hành vi xác định được hậu quả mà hành vi đó gây ra. Cố ý không xác định là trường hợp trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người có hành vi không hình dung chính xác hậu quả xảy ra như thế nào.

Điều 11. Vô ý phạm tội

Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:
1. Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;
2. Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

Bình Luận

Nếu cố ý phạm tội được chia làm cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp thì tương tự như vậy khoa học hình sự chia vô ý phạm tội thành 02 trường hợp chủ yếu là vô ý vì quá tự tin và vô ý vì cẩu thả. 

Thứ nhất: Vô ý phạm tội do quá tự tin 

Biểu hiện: Người phạm tội nhận thức và dự liệu được hậu quả do hành vi của mình gây ra có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng xét về mặt ý chí lại cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc nếu xảy ra thì có biện pháp ngăn ngừa được. Tuy nhiên cần phân tích rõ mức độ nhận thức hậu quả của người thực hiện hành vi. Nếu xem xét lại các lỗi về cố ý thì việc nhận thức và xác định, dự liệu hậu quả là điều tất yếu, hiển nhiên, pháp luật hình sự buộc người phạm tội phải nhận thức rõ vấn đề này. Hậu quả xảy ra nếu thực hiện hành vi là một điều chắc chắn, còn đối với lỗi vô ý do quá tự tin thì hậu quả có thể xảy ra hoặc không xảy ra trên thực tế. Người phạm tội nhận thức được hành vi mà mình đang hoặc sắp thực hiện có thể dẫn đến một hậu quả nào đó nhưng lại cho rằng hậu quả đó không có cơ sở để xảy ra hoặc nếu xảy ra sẽ được ngăn chặn một cách ngay lập tức. Trong ý chí khi thực hiện hành vi, người phạm tội hoàn toàn không mong muốn hậu quả xảy ra hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra như biểu hiện của trường hợp phạm tội cố ý gián tiếp nhưng trong nhận thức, người phạm tội tự tin ngăn chặn được hậu quả, tuy nhiên sự tự tin không tương đồng với thực tế, không giải quyết được vấn đề. 
Ví dụ: Một người đi săn trong rừng nhìn thấy một con lợn rừng đang đào măng để ăn, gần đó cũng có một người đang hái măng. Người đi săn giương súng bắn con lợn vì anh ta tin rằng với tài nghệ bắn súng của mình thì không thể có chuyện đạn lạc sang người hái măng được. Tuy nhiên, súng nổ lại trúng người hái măng chứ không trúng con lợn. 

Thứ hai: Vô ý phạm tội do cẩu thả 

Biểu hiện: Xét về mặt nhận thức thì người phạm tội hoàn toàn không thấy được hậu quả do hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội mặc dù pháp luật buộc người phạm tội phải thấy trước được điều đó. Việc đánh giá khả năng thấy trước hậu quả cũng cần phải xem xét trên nhiều khía cạnh và yếu tố khác nhau, cụ thể dựa vào chính khả năng của người phạm tội như trình độ nhận thức, trình độ văn hóa, lứa tuổi, kinh nghiệm sống, tay nghề...; dựa vào hoàn cảnh khách quan về không gian, thời gian, vị trí địa lý... lúc xảy ra sự việc. Việc buộc chủ thể thực hiện hành vi phạm tội phải thấy trước được hậu quả chỉ có thể áp dụng đối với những mối quan hệ chung, phổ biến mà ở đó đã hình thành một quy tắc xử sự, ai cũng phải tuân theo.
Ví dụ: Bác sĩ tiêm nhầm thuốc cho bệnh nhân và hậu quả là bệnh nhân chết. Trong trường hợp này chính sự cẩu thả của bác sĩ đã dẫn đến hậu quả là cái chết của bệnh nhân, trong quy tắc xử sự hành nghề y buộc bác sĩ phải là một người cẩn trọng trong việc sử dụng các loại thuốc và đồng thời họ cũng phải nhận thức được hậu quả sẽ như thế nào nếu có sự nhầm lẫn, sử dụng không chính xác.
Trên thực tế, có nhiều trường hợp xác định nhầm giữa cố ý gián tiếp và vô ý do quá tự tin vì trường hợp này người phạm tội đều nhận thức được hành vi của mình có thể gây ra nguy hại cho xã hội và đều không mong muốn hậu quả đó xảy ra. Tuy nhiên cần phải hiểu rằng, lỗi cố ý gián tiếp, người thực hiện hành vi vì chấp nhận khả năng hậu quả xảy ra khi lựa chọn và thực hiện hành vi. Còn vô ý vì quá tự tin, người thực hiện hành vi loại trừ khả năng hậu quả xảy ra và tin rằng hậu quả sẽ không xảy ra.

Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự 

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2.Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.

Bình Luận

Vấn đề năng lực trách nhiệm hình sự chỉ được đặt ra khi cá nhân đạt đến một độ tuổi nhất định (trừ trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự). Để quy định độ tuổi chịu TNHS, ở Việt Nam các nhà lập pháp căn cứ vào bốn tiêu chí: đặc điểm tâm sinh lý, thể chất và khả năng nhận thức của lứa tuổi chưa thành niên; điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và chính sách, đường lối xử lý tội phạm do người chưa thành niên thực hiện; tổng kết thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và phòng, chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện ở nước ta nói riêng; các quy định về độ tuổi chịu TNHS của các nước trên thế giới.
Xuất phát từ thực tiễn xét xử và quá trình trẻ hóa tội phạm ngày càng nhiều trong suốt thời gian qua mà quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự hiện nay có thay đổi rõ nét, tiến bộ hơn so với quy định trong Bộ luật hình sự 1999. BLHS 1999 chỉ xem xét TNHS đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Nhằm bảo đảm tính nhất quán trong chính sách hình sự, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên, xuất phát từ chính sách nhân đạo và yêu cầu phòng, chống tội phạm của người chưa thành niên, BLHS 2015 đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng chỉ xem xét TNHS của người từ đủ 14 tuổi dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
Việc quy định độ tuổi theo BLHS hiện hành là hoàn toàn phù hợp với pháp luật quốc tế. Bên cạnh đó, việc quy định độ tuổi như vậy cũng thể hiện chính sách hướng thiện đối với trẻ em theo hướng bảo đảm lợi ích tốt nhất cho các em trên tinh thần bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lứa tuổi thanh thiếu niên, đồng thời, góp phần nâng cao tính minh bạch của BLHS, qua đó nâng cao tính giáo dục, phòng ngừa tội phạm đối với các em ở độ tuổi này.
Kế thừa đồng thời khắc phục những hạn chế của BLHS 1999, BLHS 2015 chỉ rõ hơn những tội phạm cụ thể mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS, theo đó, các em chỉ phải chịu TNHS về việc thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (nghĩa là trong tội danh đó sẽ có khoản có khung hình phạt cao nhất phải từ trên 07 năm tù trở lên) ở 28 tội danh trong số 314 tội danh, bao gồm: Tội giết người (Điều 123); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134); Tội hiếp dâm (Điều 141); Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142); Tội cưỡng dâm (Điều 143); Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144); Tội mua bán người (Điều 150); Tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151); Tội cướp tài sản (Điều 168); Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169); Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170); Tội cướp giật tài sản (Điều 171); Tội trộm cắp tài sản (Điều 173); Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178); Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248); Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249); Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250); Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251); Tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252); Tội tổ chức đua xe trái phép (Điều 265); Tội đua xe trái phép (Điều 266); Tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều 286); Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều 287); Tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác (Điều 289); Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290); Tội khủng bố (Điều 299); Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303); Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quận sự (Điều 304).
Ngoài các tội phạm được liệt kê nêu trên thì nhóm đối tượng này khi thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đối với các loại tội phạm khác thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Ngoài ra, BLHS 2015 cũng sửa đổi phạm vi chịu trách nhiệm của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội theo hướng thu hẹp hơn. Theo quy định của BLHS năm 1999, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về việc chuẩn bị phạm tội nếu tội phạm mà họ chuẩn bị thực hiện là tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc mọi tội danh; nay theo BLHS 2015, họ chỉ phải chịu TNHS nếu chuẩn bị phạm tội thuộc một trong hai tội danh đó là: Giết người (Điều 123) và cướp tài sản (Điều 168).
Đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm. Thực tiễn cho thấy, những người đủ 16 tuổi là lứa tuổi phổ biến nhất có những hành vi nguy hiểm cho xã hội. Họ thực hiện hành vi phạm tội một cách độc lập, tự chủ và tự quyết. Vì vậy, theo quy định của BLHS 2015 về độ tuổi chịu TNHS thì người từ đủ 16 tuổi trở lên sẽ chịu TNHS đối với mọi loại tội phạm, ngoại trừ các loại tội phạm mà yêu cầu về chủ thể để cấu thành tội phạm là người từ đủ 18 tuổi trở lên.
Như vậy, tuổi chịu trách nhiệm hình sự được khái quát như sau:
- Từ đủ 16 tuổi trở lên: chịu trách nhiệm hình sự mọi loại tội phạm.
- Từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi:
+ Tội ít nghiêm trọng: Không chịu trách nhiệm hình sự.
+ Tội nghiêm trọng: Không chịu trách nhiệm hình sự.
+ Tội rất nghiêm trọng: Trong phạm vi các tội phạm được quy định nêu trên.
+ Tội đặc biệt nghiêm trọng: Trong phạm vi các tội phạm được quy định nêu trên.

Điều 13. Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác

Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. 

Bình Luận

Điều 13 Bộ Luật hình sự 2015 đã sửa tên của điều luật từ: “Phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác” (Điều 14 BLHS năm 1999) thành “Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác”. Việc sửa đổi này đảm bảo tính chính xác của luật bởi khái niệm “tình trạng say” là không rõ ràng hơn nữa không chỉ khi bị say người ta mới bị hạn chế hoặc mất khả năng nhận thức hoặc mất khả năng điều khiển hành vi của mình. Đồng thời luật cũng quy định mất khả năng nhận thức hoặc mất khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Việc quy định người mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác phải chịu trách nhiệm hình sự được lý giải với nhiều ý kiến khác nhau. Nhưng điểm chung đều thống nhất là người đó có lỗi đối với tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình (do chủ quan) chứ không phải (do khách quan) là bị mắc bệnh tâm thần hay một bệnh khác theo quy định tại Điều 21 BLHS năm 2015. Trên thực tế những người này là những người có năng lực trách nhiệm hình sự, việc mất năng lực, hạn chế năng lực do sử dụng bia, rượu, chất kích thích là do họ tự đặt mình vào trong trường hợp đấy. Người phạm tội hoàn toàn ý thức được điều này.
Đối với trường hợp không có lỗi đối với việc dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác như say rượu bệnh lý hoặc do bị mắc lừa mà dùng nhầm chất kích thích mạnh (ma túy) hay bị cưỡng bức, ép buộc dùng rượu, bia, ma túy mà rơi vào tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì chủ thể không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện trong tình trạng đó.
Phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác không những phải chịu trách nhiệm hình sự mà trong trường hợp nhất định phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn so với trường hợp bình thường. Đó là những trường hợp khi thực hiện một số công việc do tính chất đặc biệt, luật cấm người thực hiện công việc đó sử dụng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác như việc điều khiển ô tô, tàu thủy, tàu bay, tàu hỏa. Cụ thể là trong một số tội của BLHS năm 2015 như: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260); Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt (Điều 267); Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ (Điều 272) , việc phạm tội trong tình trạng hạn chế, mất năng lực hành vi do “sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hợi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kich thích mạnh khác” được xem là tình tiết tăng nặng.
Quy định tại Điều 13 BLHS mang tính giáo dục cao cũng như nhằm ngăn chặn, răn đe các đối tượng lợi dụng việc sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác để thực hiện hành vi phạm tội.

Điều 14. Chuẩn bị phạm tội

1. Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.
2. Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.
3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bình Luận

Một tội phạm thực hiện được chia làm ba giai đoạn: Chuẩn bị phạm tội; Phạm tội chưa đạt; Tội phạm hoàn thành. Chuẩn bị phạm tội là một giai đoạn trong quá trình thực hiện tội phạm, nhưng ở giai đoạn này người phạm tội chưa thực hiện hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm, tức là chưa có hành vi xâm phạm đến đối tượng tác động. Chuẩn bị phạm tội là hành vi tạo ra tiền đề (điều kiện) cần thiết cho việc thực hiện tội phạm.
Hành vi chuẩn bị phạm tội được đánh giá và phân biệt thành hai loại: Loại hành vi chuẩn bị phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự và loại không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mặc dù cả hai loại đều chưa gây ra hậu quả, nhưng tính chất nguy hiểm của hành vi chuẩn bị phạm tội có khác nhau và sự khác nhau đó lại không phụ thuộc vào tính chất và mức độ của hành vi chuẩn bị mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất nghiêm trọng của tội phạm mà người đó định thực hiện. Về lý luận thì chỉ có tội phạm được thực hiện do cố ý (cố ý trực tiếp) thì mới có giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Do đó, sẽ không có hành vi chuẩn bị phạm tội mà tội phạm đó sẽ được thực hiện do lỗi cố ý gián tiếp hoặc do lỗi vô ý.
Để có thể xem xét trách nhiệm hình sự của một đối tượng tại giai đoạn chuẩn bị phạm tội thì hành vi đó phải được biểu hiện ra hình thái bên ngoài dưới dạng các hoạt động cụ thể. Hành vi chuẩn bị phạm tội thường được thể hiện dưới các dạng sau:
- Chuẩn bị kế hoạch phạm tội như: Bàn bạc, phân công trách nhiệm cho từng người, kế hoạch tiêu thụ tài sản hay kế hoạch che giấu tội phạm…Dạng chuẩn bị phạm tội này thường xảy ra đối với những tội phạm được thực hiện có đồng phạm hoặc có tổ chức. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp trên thực tế dù một mình thực hiện vẫn có chuẩn bị về kế hoạch phạm tội này.
Ví dụ: A có ý định đầu độc B, tự A đã vạch ra một kế hoạch như mua thuốc độc ở đâu, bỏ thuốc độc vào nước cho B uống như thế nào, sau khi B bị trúng độc thì làm thế nào để che giấu được tội phạm...
- Thăm dò hoặc tìm địa điểm phạm tội, dạng chuẩn bị này chủ yếu đối với các tội xâm phạm sở hữu hoặc xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân.
Ví dụ: A muốn cướp tài sản tại nhà B, nên A đã nhiều lần đến nhà B thăm dò xem quy luật sinh hoạt của gia đình ra sao để tiến hành cướp tài sản.
- Chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội như: Chuẩn bị xe máy để đi cướp tài sản, chuẩn bị dao để giết người, chuẩn bị thuốc nổ để hủy hoại tài sản, chuẩn bị xăng để đốt nhà, chuẩn bị thuốc mê để làm cho người có tài sản uống nhằm chiếm đoạt tài sản của họ.v.v.
- Loại trừ trước những trở ngại khách quan để thực hiện tội phạm được thuận lợi dễ dàng như: Cho các con đi nghỉ mát để ở nhà giết vợ được dễ dàng...
- Chuẩn bị phạm tội cũng có thể bao gồm các dạng trên. Ví dụ: Sau khi có suy nghĩ giết Ông A để trả thù vì tranh chấp đất đai với mình, Ông B bắt đầu tìm hiểu thông tin về gia đình nạn nhân (có bao nhiêu người, lịch trình làm việc của từng người….), mua dao, chuẩn bị vật dụng cứng khác để đoạt mạng nạn nhân, chuẩn bị bao tải, cuốc nhằm phi tang xác, vì biết nạn nhân hay lên làm rẫy một mình nên Ông B đã chuẩn bị nơi phục kích…..tất cả các thông tin tìm hiểu hay công cụ, phương tiện nêu trên mà Ông B thực hiện là nhằm tiến tới thực hiện hành vi giết Ông A.
Theo quy định tại Điều 14 BLHS năm 2015 thì chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của BLHS.
Đối với Điều 109 quy định “Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân được coi là hành vi khách quan của cấu thành tội phạm này. Chỉ cần “thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” là tội phạm đã hoàn thành (cấu thành hình thức), mà khoa học luật hình sự gọi là (cấu thành cắt xén). Còn đối với trường hợp “Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 113 (Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân) và điểm a khoản 2 Điều 299 (Tội khủng bố) cũng là hành vi khách quan cấu thành tội phạm nhưng là cấu thành tăng nặng. Như vậy, ba trường hợp trên không thuộc trường hợp chuẩn bị phạm tội nữa.
Khi xem xét chi tiết vào từng loại tội danh được nêu tại Bộ luật hình sự cũng như căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh, độ tuổi của người thực hiện, không phải giai đoạn chuẩn bị phạm tội của bất kỳ tội danh nào cũng được đưa ra để xem xét trách nhiệm hình sự. Bộ luật Hình sự năm 2015 liệt kê 25 tội phạm mà người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, gồm 25 tội, đó là: Điều 108 (Tội phản bội Tổ quốc); Điều 110 (Tội gián điệp); Điều 111 (Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ); Điều 112 (Tội bạo loạn); Điều 113 (Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân); Điều 114 (Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); Điều 117 (Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); Điều 118 (Tội phá rối an ninh); Điều 119 (Tội chống phá trại giam); Điều 120 (Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân); Điều 121 (Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân); Điều 123 (Tội giết người); Điều 134, (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 168 (Tội cướp tài sản); Điều 169, các khoản 2, 3 và 4 (Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản); Điều 207 (Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả); Điều 299 (Tội khủng bố); Điều 300 (Tội tài trợ khủng bố); Điều 301 (Tội bắt cóc con tin); Điều 302 (Tội cướp biển); Điều 303 (Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 324 (Tội rửa tiền).
Như vậy, đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự cho một trong các tội danh đã liệt kê bên trên, trường hợp chuẩn bị phạm tội cho các tội danh khác thì trách nhiệm hình sự không được đặt ra. Riêng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự cho hai tội danh là Tội giết người (Điều 123) và Tội cướp tài sản (Điều 168) ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội.

Điều 15. Phạm tội chưa đạt

Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

Bình Luận

Tội phạm sau khi hoàn tất các hoạt động cần thiết tại giai đoạn chuẩn bị thì sẽ chuyển tiếp đến việc thực hiện hành vi trên thực tế. Tuy nhiên không phải mọi trường hợp tội phạm đều được thực hiện hoàn thành mà trong giai đoạn này tội phạm đã hoặc đang thực hiện nhưng vì một lý do nào đó mà không đạt được mục đích hay nói cách khác hậu quả xảy ra ngoài mong muốn của người phạm tội. Tại Điều này, chúng ta sẽ xem xét các dấu hiệu cấu thành hành vi phạm tội chưa đạt.

Thứ nhất: Hành vi đã hoặc đang thực hiện

Đây chính là giai đoạn chuyển tiếp, nếu việc chuẩn bị công cụ, phương tiện, thu thập thông tin…tại giai đoạn chuẩn bị phạm tội là sự cụ thể hóa, hiện thực hóa cho các suy nghĩ, ý định phạm tội thì đến giai đoạn này lại là biểu hiện cho quyết tâm đến cùng của tội phạm.
Ví dụ: Tội phạm giết người tại Điều 123 Bộ luật hình sự, người phạm tội đã dùng dao đâm nạn nhân hoặc dùng vật cứng đánh mạnh vào đầu nạn nhân….tất các các hành động này thể hiện tội phạm đang diễn ra, người phạm tội đang tác động, xâm phạm đến quyền con người được pháp luật hình sự bảo vệ. Tội cướp tài sản tại Điều 168, người phạm tội đã dùng dao khống chế hoặc dùng dây trói nạn nhân hoặc các hành vi khác bằng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực làm nạn nhân không thể chống cự. Tất cả các hành động nói trên của người phạm tội nhằm đạt được mục đích cuối cùng của mình (ở tội giết người, người phạm tội đã dùng dao đâm hoặc dùng vật cứng đánh mạnh vào đầu nhằm gây cái chết cho nạn nhân; ở tội cướp tài sản, người phạm tội dùng dao khống chế, đe dạo nạn nhân…nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của nạn nhân).

Thứ hai: Mục đích người phạm tội chưa đạt được

Sở dĩ ở đây chúng ta không sử dụng cụm từ hậu quả để nói lên rằng tội phạm chưa đạt do hậu quả chưa xảy ra là hoàn toàn không chính xác. Có nhiều trường hợp hậu quả chính là mục đích, là cái mong muốn đạt được của người phạm tội khi thực hiện hành vi và ngược lại có khi hậu quả không phải là đích cuối cùng mà người phạm tội hướng đến. Trong bất kỳ trường hợp nào, một hành vi phạm tội dù chưa đạt hoặc hoàn thành đều để lại những hậu quả nhất định, tội giết người nêu trên hậu quả có thể là nạn nhân chết (phù hợp với mong muốn của người phạm tội) hoặc hậu quả là gây thương tích, ảnh hưởng đến đời sống bình thường sau này của nạn nhân như gây ra cảm giác sợ hãi, lo lắng…Do vậy ở mọi khía cạnh, góc độ dù hành vi phạm tội hoàn thành hay chưa đạt đều gây ra hậu quả cho nạn nhân, gia đình và xã hội.
Dấu hiệu của tội phạm chưa đạt thể hiện rõ nét ở mục đích phạm tội. Và rõ ràng một khi chưa đạt được mục đích thì tội phạm đó đã cấu thành dấu hiệu tội phạm chưa đạt. Các trường hợp chưa đạt bao gồm:
- Hậu quả trên thực tế không đồng thời là hậu quả mong muốn của người phạm tội (đã thực hiện tất các hành vi).
- Hành vi khách quan đang diễn ra nhưng chưa dẫn đến hậu quả.

Thứ ba: Tội phạm chưa đạt là ngoài ý muốn

Xét về ý chí thì hành vi của người phạm tội phải được diễn ra theo đúng những gì họ mong muốn. Tức là hậu quả xảy ra trên thực tế phải khớp với hậu quả mong muốn của họ.Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vì một lý do nào đó (có thể là nạn nhân chống cự, phát hiện và hỗ trợ của mọi người xung quanh, sự cố của công cụ, phương tiện…..) mà mục đích của người phạm tội vẫn chưa đạt được. Để phân biệt với hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội quy định tại Điều 16 thì chúng ta phải xác định và làm rõ rằng tội phạm chưa đạt là ngoài mong muốn, còn biểu hiện về ý chí, quyết tâm thì người phạm tội vẫn mong muốn thực hiện tội phạm đến cùng.
Tại giai đoạn này, chúng ta cũng cần phải làm rõ thêm các hành vi trên thực tế của người phạm tội, biểu hiện ở việc thực hiện các hành vi khách quan. Xem xét người phạm tội đã thực hiện hết các hành vi được cho là cần thiết để tội phạm hoàn thành hay chưa. Để có đánh giá chính xác thì phải nhìn nhận vào từng tội danh cho từng hoàn cảnh, điều kiện nhất định.
Ví dụ Tội giết người: trường hợp người phạm tội đã dùng súng bắn nhưng súng kẹt cò không nổ (chưa thực hiện hết các hành vi khách quan) hoặc đã bắn nhưng đạn không trúng nạn nhân hoặc trường hợp đạn trúng nạn nhân nhưng nạn nhân không chết vì được phát hiện và cấp cứu kịp thời (đã thực hiện toàn bộ các hành vi khách quan cần thiết được cho là sẽ dẫn đến hậu quả như mong muốn của người phạm tội).
Sự phân loại nêu trên là cần thiết và có ý nghĩa trong hoạt động truy tố, xét xử tội phạm, có liên quan và quyết định mức khung hình phạt phù hợp.
Không giống giai đoạn chuẩn bị phạm tội, pháp luật hình sự quy định người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự cho tội phạm chưa đạt. Không có bất kỳ sự giới hạn tội danh bởi lẽ phạm tội chưa đạt là ngoài mong muốn của người phạm tội, và trên thực tế nó đã gây ra những hậu quả nhất định.
So với Bộ luật hình sự 1999 thì không có sự thay đổi trong quy định về Phạm tội chưa đạt. Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
Thông qua khái niệm có thể thấy hình vi phạm tội chưa đạt chỉ có thể có đối với các tội cố ý. Tuy không có một sự rõ ràng nào trong quy định, nhưng có thể hiểu chỉ có những tội cố ý trực tiếp thì mới có thể phạm tội chưa đạt. Bởi lẽ, người thực hiện hành vi phạm tội mong muốn thực hiện đến cùng hành vi và mong muốn hậu quả xảy ra.

Phạm tội chưa đạt được chia làm 02 dạng: Phạm tội chưa đạt hoàn thành và phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành.

- Phạm tội chưa đạt hoàn thành là người phạm tội đã thực hiện tất cả các hành vi mà người đó cho là cần thiết để hậu quả mong muốn có thể xảy ra, nhưng vì những nguyên nhân khách quan ngoài thực tế mà hậu quả đó không xảy ra. Nghĩa là chưa đạt về mặt hậu quả, hoàn thành về mặt hành vi.
Ví dụ: A muốn giết B, đâm nhiều nhát vào vị trí trọng yếu trên người B, A nghĩ là B đã chết nên bỏ đi, nhưng do người đi đường phát hiện đưa đi cấp cứu kịp thời nên B được cứu sống. Trường hợp này, hành vi của A là hành vi phạm tội chưa đạt hoàn thành.
- Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành là việc người thực hiện hành vi phạm tội không thực hiện được tất cả các hành vi mà người đó cho là cần thiết để dẫn đến hậu quả mà họ mong muốn. Tuy nhiên, cần chú ý việc không thực hiện được các hành vi họ cho là cần là bởi nguyên nhân khách quan, còn về mặt ý chí thì người này vẫn mong muốn thực hiện.
Ví dụ: A đang chuẩn bị đâm B thì có người ngăn cản,tri hô, lực lượng chức năng có mặt và bắt A, nên A không thể thực hiện được hành vi của mình.
Ý chí của chủ thể trong trường hợp này là rất quan trọng, đây là căn cứ để phân biệt giữa tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội và phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành. Người thực hiện hành vi phạm tội dù trong trường hợp chưa thành hay đã hoàn thành đều phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trên.

Điều 16. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội 

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.
Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Bình Luận

Xét về bản chất thì việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có nét tương đồng so với quy định về phạm tội chưa đạt ở điểm hậu quả mong muốn của người phạm tội không xảy ra. Tuy nhiên hậu quả không xảy ra là xuất phát từ ý chí từ bỏ thực hiện hành vi của người phạm tội chứ không phải là do những nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan như chế định phạm tội chưa đạt. Dấu hiệu của việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được thể hiện đầy đủ qua các đặc điểm dưới đây:

Thứ nhất: Người phạm tội tự mình chấm dứt hành vi phạm tội

Sự chấm dứt tội phạm được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải là do người thực hiện hành vi tự nguyện và dứt khoát chấm dứt không tiếp tục thực hiện tội phạm nữa. Đây là dấu hiệu quan trọng nhất để nhận biết, người phạm tội phải tự mình, bằng ý chí của mình chấm dứt không thực hiện các hành vi khách quan ở giai đoạn tiếp theo giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc các hành vi khách quan khác cần thiết cho hậu quả xảy ra. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội còn được xem xét ở cả giai đoạn chuẩn bị phạm tội hay nói cách khác là ở tất cả các khâu, quá trình trước khi hậu quả xảy ra.
Nguyên nhân dẫn đến việc chấm dứt hành vi phạm tội: Phải xuất phát tự sự tự nguyện và kiên quyết của người thực hiện hành vi mà không phải bị tác động bởi các bên thứ ba hay chủ thể, nguyên nhân nào khác.
Ví dụ: Tội giết người quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự, để giết Ông A, Ông B đã chuẩn bị đầy đủ các phương tiện, công cụ, nắm bắt được lịch trình, thời gian lên rẫy của Ông B. Tuy nhiên sau đó Ông B suy nghĩ lại chỉ vì tranh chấp đất mà mình lại ra tay giết người, cảm thấy cắn rứt lương tâm nên đã dừng không thực hiện tiếp. Việc không tiếp tục thực hiện hành vi của Ông B trong trường hợp này được xem là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

Thứ hai: Không bị ngăn cản thực hiện hành vi

Điều này có nghĩa, ngoài việc tự mình từ bỏ ý định thực hiện hành vi phạm tội thì không có bất kỳ điều gì có thể ngăn cản người phạm tội nếu họ quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng. Nếu trong phạm tội chưa đạt thì ta có thể dễ dàng nhận thấy người phạm tội luôn tìm mọi cách, tạo mọi cơ hội điều kiện, vượt qua các rào cản để thực hiện hành vi của mình nhưng trong chế định này người phạm tội không hề mong muốn hậu quả xảy ra nên dừng hoặc tìm mọi cách để dừng hành vi phạm tội.
Loại bỏ việc ngăn cản, hay dừng thực hiện hành vi là do tác động bởi yếu tố khác (Ví dụ: do người khác khuyên răn, ngăn cản, do bị phát hiện kịp thời, do vật cản…) thì không được xem xét là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội mà đây được xem là phạm tội chưa đạt.
Ví dụ: đêm khuya Ông A đang lẻn vào nhà giết Ông B nhưng chó sủa làm mọi người thức giấc…Đây là chúng ta xem xét hành vi phạm tội không có đồng phạm, vậy trường hợp có đồng phạm với tư cách là người tổ chức, xúi giục, thực hành, giúp sức thì mỗi đồng phạm được xem là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội khi nào trong khi các đồng phạm khác vẫn cố tình thực hiện tội phạm đến cùng. Trong đồng phạm, việc đánh giá hành vi được thể hiện ở chỗ bản thân mỗi đồng phạm phải ngay lập tức tự chấm dứt vai trò của mình, đồng thời tìm mọi cách để ngăn chặn vai trò của đồng phạm khác.
Sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải xảy ra trước khi một người có hành vi thỏa mãn hết các dấu hiệu của một tội phạm cụ thể, nghĩa là chỉ có thể xảy ra khi một người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội hoặc khi đã có hành vi bắt tay vào việc thực hiện tội phạm nhưng chưa thực hiện được tội phạm đến cùng. Nếu một người đã thực hiện được hết những hành vi mà người đó cho là cần thiết để thực hiện tội phạm nhưng tội phạm chưa hoàn thành do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người đó thì dù sau đó người ấy không tiếp tục thực hiện tội phạm nữa cũng không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội vì hành vi của người đó đã ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Nếu một người đã thực hiện được hết những hành vi mà người đó cho là cần thiết để thực hiện tội phạm nhưng giữa hành vi mà người đó thực hiện với hậu quả nguy hiểm cho xã hội còn có một khoảng thời gian. Trong khoảng thời gian này người ấy lại có những hành động tích cực ngăn chặn tội phạm khiến cho tội phạm không hoàn thành được cũng được coi là tự ý nủa chừng chấm dứt việc phạm tội.
Về trách nhiệm hình sự đối với người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội: về nguyên tắc người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội sẽ được miễn trách nhiệm hình sự cho tội danh định phạm. Tuy nhiên nếu các yếu tố cấu thành một tội danh khác thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự cho tội danh đó.
Ví dụ: Để giết Ông B, Ông A đã mua một khẩu súng tuy nhiên sau đó không thực hiện hành vi nữa do nhận thấy cảm giác có lỗi, ray rứt lương tâm nếu giết Ông B. Việc tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội, Ông A không phải chịu trách nhiệm hình sự cho Tội giết người theo Điều 123, tuy nhiên với việc mua một khẩu súng, Ông A sẽ bị xem xét trách nhiệm hình sự ở tội danh “Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự” hoặc “Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ” tùy thuộc vào loại súng mà Ông A đã mua.
Chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội một mặt thể hiện tính nhân đạo của luật hình sự, nó cho một người đã có ý định phạm tội, đã có hành vi chuẩn bị hoặc bắt tay vào việc thực hiện tội phạm nhưng đã tự nguyện nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, được hưởng lượng khoan hồng, không phải chịu trách nhiệm hình sự. Mặt khác, chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội cũng là một trong những biện pháp góp phần ngăn chặn những hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Nó cho phép một người có ý định phạm tội, đã chuẩn bị hoặc bắt tay vào việc thực hiện tội phạm, vẫn có khả năng lựa chọn cách xử sự của mình: Một là tiếp tục thực hiện tội phạm đến cùng thì có thể sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự; hai là tự mình chấm dứt việc phạm tội thì sẽ được hưởng lượng khoan hồng, không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong nhiều trường hợp một người có hành vi nguy hiểm cho xã hội đã lựa chọn cách xử sự thứ hai và điều đó rõ ràng đã góp phần hạn chế bớt những thiệt hại nguy hiểm có thể xảy ra cho xã hội.

Điều 17. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.
Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.

Bình Luận

1. Khái niệm đồng phạm được hiểu là việc thực hiện hành vi phạm tội khi có từ hai chủ thể trở lên và tất nhiên các chủ thể này phải có năng lực trách nhiệm hình sự. Các chủ thể cùng nhau thực hiện tội phạm một cách cố ý.
Tuy nhiên với khái niệm cùng nhau thực hiện một tội phạm có thể dẫn đến nhiều cách hiểu gây nhầm lẫn mà phổ biến là cho rằng các chủ thể chỉ được xem là đồng phạm khi và chỉ khi cùng thực hiện một tội phạm, trường hợp cùng thực hiện từ hai tội phạm trở lên thì không thỏa mãn yếu tố đồng phạm. Với cách hiểu như vậy là hoàn toàn chưa phù hợp với tinh thần pháp luật bởi lẽ một hành vi phạm tội chỉ được xem xét có đồng phạm hay không khi có ít nhất từ hai chủ thể trở lên cùng thực hiện một tội phạm. Các chủ thể này thực hiện nhiều hành vi phạm tội nhưng giữa họ chỉ có duy nhất một tội phạm cùng thực hiện thì tất nhiên các hành vi phạm tội còn lại sẽ không tồn tại yếu tố đồng phạm. Chính vì vậy mà việc xem xét có tồn tại đồng phạm hay không phải được cân nhắc xem xét trên từng tội danh một để xác định và từ đó pháp luật mới đưa ra khái niệm: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cùng cố ý thực hiện một tội phạm”.
Về bản chất, có thể hiểu đồng phạm là những người cùng tham gia vào việc thực hiện một tội phạm như: cùng thực hiện tội phạm có thể là trực tiếp thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm (là người thực hành), thực hiện hành vi chủ mưu, chỉ huy, cầm đầu việc thực hiện tội phạm (là người tổ chức), người thực hiện hành vi kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm (là người xúi giục); tạo điều kiện về tinh thần hay vật chất cho người khác thực hiện tội phạm (là người giúp sức). Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vi phạm tội của mình mà còn biết và mong muốn sự cùng tham gia của những người đồng phạm khác. Cùng cố ý trong đồng phạm được thể hiện trên hai phương diện về lý trí và ý chí.
Về lý trí: Mỗi người đồng phạm đều nhận thức được tính chất nguy hiểm đối với hành vi của mình, nhận thức được tính chất nguy hiểm của những người đồng phạm khác, thấy trước được việc gây ra hậu quả chung của hành vi phạm tội đó.
Về ý chí: các chủ thể đều nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả xảy ra và mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặt cho hậu quả đó xảy ra. Như vậy giữa các chủ thể đều thống nhất và quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng và mong muốn hậu quả chung của tội phạm xảy ra.

Như vậy, để thoả mãn quy định về đồng phạm cần có những điều kiện sau đây:

Thứ nhất: phải từ hai người trở lên, những người này phải có đủ dấu hiệu về chủ thể của tội phạm. Đây là điều kiện về năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Thứ hai: cố ý cùng thực hiện một tội phạm, tức là mỗi người trong đồng phạm đều có hành vi tham gia vào việc thực hiện tội phạm, hành vi của mỗi người được thực hiện có sự liên kết với nhau, hành vi của người này hỗ trợ, bổ sung cho hành vi của người khác và ngược lại, hành vi phạm tội của mỗi người đều nằm trong hoạt động phạm tội của cả nhóm, với mục đích chung là đạt được kết quả thực hiện tội phạm. Vì vậy, sẽ không được coi là đồng phạm khi một số người đã cùng thực hiện một tội phạm và cùng một thời gian nhưng giữa những người này không có sự bàn bạc, liên hệ, ràng buộc, hỗ trợ lẫn nhau mà hành vi của từng người đều thực hiện độc lập.
Xét về tính chất nguy hiểm giữa cùng một tội danh có đồng phạm và không đồng phạm thì tính chất, mức độ của hành vi phạm tội có đồng phạm gây nguy hiểm cao cho xã hội cũng như các hậu quả mà nó gây ra không hề nhỏ. Các tội phạm này thường được thực hiện một cách tinh vi, khó phát hiện cũng như ngăn chặn… vì vậy mà khi xét xử các tội danh có đồng phạm thì trách nhiệm hình sự của các chủ thể được xem xét ở mức tăng nặng trách nhiệm hình sự hơn so với cùng một tội danh được thực hiện riêng lẻ. (“Phạm tội có tổ chức” là một trong các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 BLHS)
2. Phạm tội có tổ chức là hình thức phạm tội có đồng phạm nhưng nguy hiểm hơn bởi có sự cấu kết chặt giữa những người đồng phạm. Tính cấu kết chặt chẽ biểu hiện ở việc phân hóa rõ ràng trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi đồng phạm từ khi tội phạm được hình thành cho đến khi kết thúc. Tính tổ chức của tội phạm được thể hiện:
Biến tổ chức thành môi trường, vỏ bọc, công cụ cho việc thực hiện tội phạm. Tổ chức được các đồng phạm tạo lập ra khi bắt đầu thực hiện tội phạm hoặc các đồng phạm tham gia vào một tổ chức, băng nhóm sẵn có. Ví dụ: các băng nhóm tội phạm hình thành chuyên đi cướp giật tại các khu vực trung tâm thành phố hoặc việc gia nhập vào băng đảng bảo kê, đòi nợ tại các quán bar, nhà hàng, khách sạn. Thông qua lý luận cũng như thực tiễn phòng chống tội phạm, các băng nhóm tội phạm hoạt động rất công khai, táo tợn, sẵn sàng tấn công bất kỳ ai có ý định can thiệp, chống trả, luôn có đầy đủ công cụ, phương tiện phạm tội…thậm chí có chủ trương, kế hoạch hoạt động. Tội phạm có tổ chức không chỉ tác động đến quan hệ bị xâm hại mà còn gây ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm lý xã hội.
3. Các loại chủ thể trong đồng phạm: Với tính chất của đồng phạm là có sự tham gia của nhiều người, phân hóa nội dung công việc nên vai trò của các chủ thể được biểu hiện thông qua các đối tượng cụ thể sau đây:
- Người tổ chức: đây là chủ thể có vai trò quan trọng, khơi mào cho tội phạm được thực hiện. Thể hiện ở việc khởi xướng, lập ra kế hoạch, đường lối, tập hợp, lôi kéo và phân công các thành viên hay nói cách khác người tổ chức là kim chỉ nam cho mọi hoạt động trong tội phạm.
- Người xúi giục là người tác động lên nhận thức hoặc ý chí của người khác nhằm tìm mọi cách để tội phạm được thực hiện, hiện thực hóa tội phạm trên thực tế.
- Người thực hành là người trực tiếp thực hiện các hành vi khách quan của tội phạm. Ví dụ: là người dùng dao đâm, dùng súng bắn, đẩy nạn nhân xuống nước… đối với tội giết người; là người dùng vũ lực như đánh, đấm, đâm nạn nhân, trói nạn nhân… đối với tội cướp tài sản…Chủ thể là người thực hành, chúng ta xem xét dưới hai khía cạnh hành động trực tiếp hoặc hành động thông qua một người khác:
  • Hành động trực tiếp: Người hành động tự chính mình thực hiện các hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm như tự mình cầm dao đâm, tự mình dùng súng bắn nạn nhân…
  • Hành động thông qua người khác: Người khác được đề cập ở đây chính là các chủ thể không có năng lực trách nhiệm hình sự. Chẳng hạn dụ dỗ trẻ em dưới 14 tuổi vận chuyển heroin, lừa người khác đưa đồ ăn có chứa chất độc nhằm mục đích giết người. Trong trường hợp này, người xúi giục trẻ en vận chuyển heroin, người lừa đưa đồ ăn là người thực hành cho các tội danh liên quan.
- Người giúp sức là người hỗ trợ tích cực, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tội phạm được diễn ra, biểu hiện:
  • Giúp sức về vật chất: Như chuẩn bị sẵn công cụ, phương tiện phạm tội, thăm dò trước hiện trường, lập sơ đồ vị trí hướng dẫn, chỉ điểm, thông tin về đối tượng, quan hệ chuẩn bị xâm hại…
  • Giúp sức về tinh thần: Như động viên người thực hành (gợi ý mức lợi nhuận khổng lồ khi vận chuyển thành công heroin với số lượng lớn), hứa hẹn về việc che giấu tội phạm, các lợi ích…
4. Hành vi vượt quá của người thực hành là việc người thực hành tự ý thực hiện hành vi phạm tội mà những người đồng phạm khác không biết và không mong muốn. Hay nói cách khác, hành vi vượt quá của người thực hành mà những người đồng phạm khác không có ý định thực hiện, cũng không mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra. Nếu những người đồng phạm để cho người thực hành hoàn toàn tự do hành động nhằm đạt được mục đích của tội phạm mà mình mong muốn, thì mọi hành vi của người thực hành không được coi là hành vi vượt quá và những người đồng phạm khác phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi và hậu quả của người thực hành gây ra.
Khoa học luật hình sự chia hành vi vượt quá ra làm hai loại chính: Vượt quá về chất lượng của hành vi và vượt quá về số lượng của hành vi.
Vượt quá về chất lượng của hành vi là trường hợp người thực hành trong vụ án có đồng phạm thực hiện hành vi vượt quá đó không cùng tính chất với tội phạm mà những người đồng phạm khác có ý định thực hiện, nếu hành vi vượt quá cấu thành tội phạm thì tội phạm đó không cùng tính chất với tội phạm mà những người đồng phạm khác có ý định thực hiện. Thái quá về số lượng hành vi là trường hợp người thực hành trong vụ án có đồng phạm thực hiện hành vi vượt quá mà hành vi đó cùng tính chất với hành vi phạm tội mà những người đồng phạm khác có ý định thực hiện.
Sự phân biệt hai loại hành vi vượt quá như trên chỉ có ý nghĩa trong công tác nghiên cứu khoa học, còn thực tiễn xét xử dù là vượt quá về chất lượng hay về số lượng của hành vi thì những người đồng phạm khác đều không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.
Vấn đề loại trừ trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm khác (không phải là người thực hành) trong vụ án có đồng phạm không chỉ liên quan đến hành vi vượt quá của người thực hành mà còn liên quan đến nhiều chế định khác như: Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, vấn đề lỗi, các điều kiện của đồng phạm và phạm tội có tổ chức... Hành vi vượt quá của người thực hành lại liên quan trực tiếp đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự của người đồng phạm khác, nên có thể nói hành vi vượt quá của người thực hành chính là điều kiện (căn cứ) để loại trừ trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm khác.

Điều 18. Che giấu tội phạm

1. Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.
2. Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

Bình Luận

Có thể thấy, so với quy định tại Bộ luật Hình sự 1999, Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã bổ sung thêm một điều khoản quy định về Che giấu tội phạm. Cụ thể, Theo Khoản 2 Điều 18 Bộ luật Hình sự 2015 mới được bổ sung, trong trường hợp người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội thì không phải chịu trách nhiệm hình sự trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật Hình sự 2015. Đây là có xem là một điểm mới mang tính nhân văn của pháp luật xuất phát từ văn hóa, truyền thống của dân tộc Việt Nam chúng ta.
Vậy, che dấu tội phạm có được xem là đồng phạm hay không? Xem xét quy định tại Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 về đồng phạm và các yếu tố cấu thành đồng phạm, chúng ta có thể hiểu, 2 hành vi này là khác nhau. Giữa đồng phạm và che dấu tội phạm có những sự khác biệt cơ bản. Cụ thể, hành vi che dấu tội phạm được hiểu như sau:
- Thứ nhất, chủ thể của hành vi: Là người từ đủ 16 tuổi trở lên trừ đối tượng che dấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội thì không phải chịu trách nhiện hình sự, đây là các đối tượng có mối quan hệ mật thiết với người phạm tội về huyết thống, hôn nhân mà pháp luật hình sự đã loại họ ra khỏi chủ thể của tội danh này. Tuy nhiên đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 389 thì các chủ thể đặc biệt này vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự mà không có bất kỳ sự ngoại lệ nào.
- Thứ hai, hành vi này được thực hiện sau khi một tội phạm khác đã hoàn thành: Đây chính là đặc điểm để phân biệt sự khác nhau giữa hành vi che dấu tội phạm và đồng phạm. Người phạm tội sau khi biết được một tội phạm đã được thực hiện, thay vì tố giác thì họ lại thực hiện các hành vi với mục đích nhằm che dấu tội phạm. Đây chính là sự giúp sức để một tội phạm né tránh việc bị phát hiện và xử lý theo quy định của pháp luật và tất nhiên việc giúp sức này không phải xuất phát do sự hứa hẹn trước đó mà nó chỉ xuất hiện vào thời điểm tội phạm đã được thực hiện. Nếu có sự hứa hẹn hoặc phân công trước đó thì đây là đồng phạm với vai trò giúp sức của tội phạm đã thực hiện.
- Thứ ba, biểu hiện của hành vi bao gồm:
  • Che dấu người phạm tội: cho người phạm tội ẩn náu trong nhà mình hoặc một nơi nào khác hoặc biết người phạm tội đang ở đâu nhưng không khai báo và tìm mọi cách che dấu để người khác không biết được.
  • Che dấu dấu vết, tang vật của tội phạm: tương tự việc che dấu người phạm tội thì chủ thể của tội danh này cũng tìm mọi cách để ngăn chặn sự tiếp xúc của đối tượng thứ ba.
  • Cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm: thể hiện ở các hành vi như cố tình cung cấp các thông tin sai sự thật, xóa bỏ dấu vết của tội phạm, tiêu hủy các công cụ, phương tiện tội phạm…
Hành vi che giấu tội phạm của người phạm tội là thể hiện sự xem thường pháp luật, chủ thể của hành vi không đấu tranh chống tội phạm mà lại góp phần che dấu, khuyến khích tội phạm thực hiện trên thực tế. Do vậy phải chịu trách nhiệm hình sự tương thích và một phần răn đe những ai có định ý bao che cho tội phạm.

Điều 19. Không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.
2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
3. Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.

Bình Luận

Không tố giác tội phạm là biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không trình báo với cơ quan chức năng có thẩm quyền để kịp thời ngăn chặn hoặc kịp thời điều tra phát hiện tội phạm, gây khó khăn cho việc điều tra, xử lý người phạm tội.

Hành vi không tố giác tội phạm có một số đặc điểm sau:

- Chủ thể: bất kỳ ai từ đủ 16 tuổi trở lên. Chủ thể là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ chịu trách nhiệm hình sự khi không tố giác tội phạm được quy định tại Chương XIII (các tội xâm phạm an ninh quốc gia) hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
- Hành vi không tố giác tội phạm luôn được thực hiện dưới hình thức “không hành động phạm tội”.
Để phân biệt được với đồng phạm, che dấu tội phạm thì hành vi cấu thành tội danh này hoàn toàn được biểu hiện dưới dạng không hành động. Ví dụ: mặc dù trước đó A đã được B thông báo rằng B sẽ giết C vào tối mai (A hoàn toàn có cơ sở để xác định lời nói của B là có thật, hành vi của B chắc chắn sẽ diễn ra vì trước đó giữa B và C đã có cuộc ẩu đã, tạo tư thù cộng với bản tính giang hồ của B), tuy nhiên A đã không thông báo cho cơ quan chức năng về hành động sắp diễn ra của B và hậu quả là B đã giết C. Sự không hành động thể hiện sự phó mặc cho hậu quả xảy ra của người phạm tội, thể hiện sự vô tâm, hờ hững trước các quan hệ xã hội chuẩn bị bị hành vi phạm tội xâm hại.
Không phải trong mọi trường hợp, việc không hành động của một người đều cấu thành và bị xem xét trách nhiệm hình sự ở tội danh không tố giác tội phạm theo Điều 390 Bộ luật hình sự. Chỉ cấu thành tội danh khi thỏa mãn đồng thời các yếu tố sau:
+ Phải biết rõ tội phạm đang diễn ra: Biết rõ tội phạm là phải biết hành vi của người khác là hành vi phạm tội, bản thân người không tố giác cũng nhận thức được hành vi đó là hành vi cấu thành cấu thành tội phạm mà không tố giác thì mới chịu trách nhiệm hình sự. Nếu biết rõ hành vi nhưng không nhận thức được hành vi đó là hành vi phạm tội thì việc không tố giác không phải là phạm tội. Ví dụ: Một nhân viên nhìn thấy thủ quỹ đưa tiền cho giám đốc, nhưng không biết đó là tiền gì. Sau khi vụ án bị phát hiện thì mới biết số tiền đó là tiền tham ô. Trường hợp này nhân viên này không bị truy cứu về việc không tố giác tội phạm. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp ai nhìn thấy cũng phải chịu trách nhiệm hình sự, điều này căn cứ vào hành vi phạm tội đó đòi hỏi người nhìn thấy bắt buộc phải nhận thức được đó là hành vi phạm tội. Ví dụ: A thấy B cầm dao thực hiện hành vi giết người nhưng không tố giác. Trường hợp này, cấu thành của tội và hành vi đó đòi hỏi người nhìn thấy hành vi phải biết đó là hành vi phạm tội.
+ Có điều kiện để thực hiện hành động tố giác tội phạm: Điều này có nghĩa việc tố giác tội phạm không bị cản trở, ngăn cản. Nếu một người sau khi nắm bắt chắc chắn thông tin hoặc có căn cứ xác đáng tội phạm đang diễn ra nhưng không có điều kiện, cơ hội để tố giác thì hành vi của họ cũng không đủ yếu tố cấu thành tội danh tại Điều 390. Ví dụ, A và B nghe trộm được thông tin trao đổi của C với bên giao ma túy và biết C đang nhận vận chuyển ma túy từ Lào vào Việt Nam, biết được số lượng, địa điểm giao hàng nhưng C lẫn bên giao hàng đe dọa sẽ giết A, B và người thân của họ nếu như A, B tố giác hành vi. Do vậy việc không hành động của A, B nếu có cũng không được xem xét là hành vi khách quan của tội phạm.
- Hành vi không tố giác tội phạm có thể xảy ra ở giai đoạn tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện (đã kết thúc). Nếu che dấu tội phạm chỉ được thực hiện sau khi một tội phạm đã được thực hiện trên thực tế thì hành vi không tố giác tội phạm xảy ra tại bất kỳ giai đoạn nào của tội phạm từ giai đoạn chuẩn bị cho đến đang thực hiện hoặc đã thực hiện.
- Lỗi của người có hành vi không tố giác tội phạm là lỗi cố ý trực tiếp.
- Cũng như hành vi che giấu tội phạm, hành vi không tố giác tội phạm tuy có liên quan đến tội phạm nhưng không phải là hành vi đồng phạm bởi người không tố giác không “cố ý cùng thực hiện tội phạm” với người mà người đó không tố giác. Hành vi không tố giác tội phạm không có quan hệ nhân quả với hành vi phạm tội và hậu quả của tội phạm do người khác gây ra.
Điểm mới của Bộ luật hình sự hiện hành so với Bộ luật hình sự 1999 là việc bổ sung thêm một đối tượng là chủ thể của hành vi không tố giác tội phạm. Chủ thể này có điểm đặc biệt chính là người bào chữa, pháp luật quy định trong quá trình thực hiện việc bào chữa mà phát hiện hoặc có căn cứ xác đáng cho rằng người được bào chữa chuẩn bị phạm tội, đang thực hiện hoặc đã thực hiện hành vi phạm tội tại chương III (các tội xâm phạm an ninh quốc gia) hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng mà người bào chữa không tố giác thì phải chịu trách nhiệm hình sự.
Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm những năm qua cho thấy trong khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, người bào chữa biết rõ người mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện tội phạm nhưng vì lợi ích của người được bào chữa, người bào chữa đã không tố giác tội phạm này. Buộc người bào chữa phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm do người mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện vừa không thực tế vừa buộc người bào chữa phải vi phạm nghĩa vụ của người bào chữa đối với thân chủ của mình. Do vậy, BLHS năm 2015 bổ sung quy định người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại chương XIII BLHS hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Tham khảo:

Bài liên quan

Ý KIẾN

Tổng số
Tên

Anti Virus,11,Âm thanh,4,Bảng lương,31,Bảo hiểm,6,Biểu mẫu,18,Bình luận BLHS,25,Bộ Luật,49,Calendar,9,Cán bộ công chức,43,CCCD,1,CMND,15,Cư trú,19,Dân sự,10,Doanh nghiệp,24,Đất đai - Nhà ở,18,Đầu tư - Đấu thầu,23,Ebook,11,Game,4,Giao thông,53,Giấy tờ xe,32,Hệ thống,9,Hình ảnh,15,Hình sự,18,học Tiếng Anh,9,Hộ khẩu,8,Hôn nhân Gia đình,13,Khai sinh,9,Kinh nghiệm pháp lý,9,Lao động,16,Luật cơ bản,93,Luật thuế,21,Luật tiếng Anh,59,Nghĩa vụ quân sự,10,Phần mềm điện thoại,14,Phần mềm PC,102,Quyết định,1,Tải file,22,Thanh tra - Khiếu nại tố cáo,3,Thủ thuật Facebook,18,Thủ thuật Zalo,2,Thủ tục hành chính,77,Tố tụng hình sự,12,Trắc nghiệm,15,Trực tuyến,6,Văn bản,2148,Văn phòng,15,Video,4,Xây dựng,11,Xử phạt,3,
ltr
item
Tra cứu pháp luật - Thủ Tục Hành Chính - Thủ thuật phần mềm: Bình luận Bộ luật hình sự phần chung - Chương III: Tội phạm
Bình luận Bộ luật hình sự phần chung - Chương III: Tội phạm
Bình luận phần chung của Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) - Chương III: Tội phạm.
https://4.bp.blogspot.com/-paUnmHFkMJ0/WxKp1hIFEOI/AAAAAAAAK3I/TUMHGgoq-Xkf6zmxkDPXR12WsYeqvjZ8gCLcBGAs/s1600/binh%2Bluan%2Bkhoa%2Bhoc%2BBLHS-min.jpg
https://4.bp.blogspot.com/-paUnmHFkMJ0/WxKp1hIFEOI/AAAAAAAAK3I/TUMHGgoq-Xkf6zmxkDPXR12WsYeqvjZ8gCLcBGAs/s72-c/binh%2Bluan%2Bkhoa%2Bhoc%2BBLHS-min.jpg
Tra cứu pháp luật - Thủ Tục Hành Chính - Thủ thuật phần mềm
https://www.tracuuphapluat.info/2019/12/binh-luan-bo-luat-hinh-su-phan-chung-toi-pham.html
https://www.tracuuphapluat.info/
https://www.tracuuphapluat.info/
https://www.tracuuphapluat.info/2019/12/binh-luan-bo-luat-hinh-su-phan-chung-toi-pham.html
true
1624770636553188390
UTF-8
Loaded All Posts Not found any posts Xem tất cả bài viết Đọc tiếp Trả lời Hủy trả lời Xóa By Trang chủ PAGES Bài viết View All RECOMMENDED FOR YOU Chủ đề ARCHIVE Tìm kiếm với từ khóa ALL POSTS Not found any post match with your request Back Home Sunday Monday Tuesday Wednesday Thursday Friday Saturday Sun Mon Tue Wed Thu Fri Sat Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8 Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11 Tháng 12 Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8 Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11 Tháng 12 just now 1 minute ago $$1$$ minutes ago 1 hour ago $$1$$ hours ago Yesterday $$1$$ days ago $$1$$ weeks ago more than 5 weeks ago Followers Follow THIS PREMIUM CONTENT IS LOCKED STEP 1: Share to a social network STEP 2: Click the link on your social network Copy All Code Select All Code All codes were copied to your clipboard Can not copy the codes / texts, please press [CTRL]+[C] (or CMD+C with Mac) to copy Table of Content