Bình luận tội bắt giữ, giam người trái pháp luật Điều 157 Bộ luật hình sự

tội bắt giữ giam người trái pháp luật
Bắt, giữ người trái pháp luật là hành vi ngăn cản, tước đoạt sự tự do dịch chuyển thân thể của người khác trái với quy định của pháp luật. Tội "Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật" là một trong những tội danh xâm phạm đến quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân với mức xử lý tối đa lên đến 12 năm tù. Trong thực tiễn, hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật diễn ra rất đa dạng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau.

I. Căn cứ pháp lý của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật:

Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật được quy định tại Điều 157 Bộ luật Hình sự 2015.

1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với người đang thi hành công vụ;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Đối với 02 người trở lên;
e) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
g) Làm cho người bị bắt, giữ, giam hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn;
h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Làm người bị bắt, giữ, giam chết hoặc tự sát;
b) Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm của người bị bắt, giữ, giam;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Tham khảo bình luận các tội danh khác: Bình luận khoa học Bộ Luật hình sự phần chung và tội phạm

II. Dấu hiệu pháp lý của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

1. Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tự do cá nhân của con người, của công dân. Hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật xâm phạm đến quyền tự do thân thể, quyền tự do đi lại của người khác được bảo vệ bằng Hiến pháp và pháp luật.

Khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định”. Do đó, các hoạt động bắt, giữ hoặc giam người được quy định rất chặt chẽ trong Bộ luật tố tụng hình sự, Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn liên quan nhằm bảo đảm cho các quyền nói trên của công dân.

2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm này là hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật. Hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật được hiểu là hành vi của một người, hoặc một nhóm người không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật ngăn cản, tước đoạt sự tự do hoạt động, dịch chuyển thân thể của người khác trái với quy định của pháp luật về căn cứ, thẩm quyền và trình tự, thủ tục. Trên thực tế, hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật diễn ra rất đa dạng, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cũng khác nhau. Nếu phân loại theo đối tượng thì có 2 dạng hành vi như sau:

* Dạng hành vi thứ nhất: Người không có thẩm quyền, không có chức năng hoạt động Nhà nước, không có chức vụ quyền hạn và cũng không thuộc trường hợp được phép bắt người nhưng vì lý do cá nhân đã có hành vi bắt, giữ, giam người trái phép. Cụ thể gồm các hành vi:

  • Bắt người khác trái pháp luật: Theo quy định của pháp luật, bất kỳ người nào cũng có quyền bắt người phạm tội quả tang (Điều 111 BLTTHS năm 2015), người đang bị truy nã (khoản 1 Điều 112 BLTHS năm 2015) và đưa người bị bắt đến trụ sở cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc UBND gần nhất. Ngoài 2 trường hợp này, người nào thực hiện hành vi khống chế, bắt người khác với bất kỳ mục đích nào đều là hành vi bắt người trái pháp luật. Việc khống chế có thể sử dụng đến vũ lực như trói, còng tay, khóa tay… hoặc đe doạ dùng vũ lực (thường là buộc người bị bắt phải đến nơi mà người phạm tội đã chọn).
  • Giữ người khác trái pháp luật: Được thể hiện ở hành vi không cho người khác di chuyển hoặc đi đâu vượt ra ngoài sự kiểm soát của mình trong một khoảng thời gian nhất định. Mục đích giữ người trái pháp luật không phải là dấu hiệu bắt buộc. Ví dụ: giữ con nợ trên xe ô tô, đe dọa buộc chỉ đường để chở đến nhà gia đình để đòi tiền.
  • Giam người khác trái pháp luật: Được thể hiện ở hành vi cách ly người khác trái pháp luật ở một địa điểm và trong một khoảng thời gian nhất định. Ví dụ: Chủ nợ nhốt con nợ trong phòng khách sạn 12 tiếng để ép con nợ viết giấy vay nợ...

Một số lưu ý:

- Nếu trong quá trình bắt người phạm tội quả tang, người đang bị truy nã mà gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, của người đó thì người thực hiện hành vi bắt có thể bị truy cứu TNHS về Tội giết người do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 126) hoặc Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 136).

- Hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật nhằm mục đích chiếm đoạt nạn nhân (dưới 16 tuổikhông phải là hành vi khách quan của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật mà là hành vi khách quan của tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 153 BLHS.

- Thủ đoạn thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật nói trên có thể là hành vi dùng vũ lực, dùng sức mạnh về vật chất như dùng công cụ đánh, trói, nhốt vào thùng xe, nhà kho… hoặc đe dọa dùng vũ lực, sử dụng bạo lực về tinh thần như đe dọa bắn, đánh nếu không để cho bắt, giữ, giam… Tuy nhiên, các thủ đoạn này không có ý nghĩa đối với việc định tội danh.

* Dạng hành vi thứ hai: Người tuy có thẩm quyền, có chức năng hoạt động Nhà nước nhưng lại tiến hành bắt, giữ hoặc giam người không đúng căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật (Bộ luật hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật Thi hành án Hình sự, Luật xử lý vi phạm hành chính…).

Pháp luật hiện hành chỉ cho phép người có thẩm quyền thực hiện việc bắt, tạm giữ, tạm giam người trong các trường hợp sau đây:

  • Về bắt người: phải thuộc trường hợp bắt người phạm tội quả tang (Điều 111 BLTTHS năm 2015) hoặc bắt người đang bị truy nã (Khoản 1 Điều 112 BLTHS năm 2015) hoặc bắt bị can, bị cáo để tạm giam (theo lệnh, quyết định của người, cơ quan có thẩm quyền để tạm giam họ trong một thời hạn nhất định - Điều 113 BLTTHS năm 2015). Việc bắt người trong 3 trường hợp này đều phải lập biên bản.
  • Về tạm giữ người bị bắt: gồm tạm giữ người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang; người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc bị bắt theo quyết định truy nã (Điều 113 BLTTHS năm 2015) hoặc tạm giữ người theo thủ tục hành chính, áp dụng khi cần ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính hay để xác định tình trạng nghiện ma túy. (Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 16 Nghị định 142/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021)
  • Về tạm giam: Chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội khi có Quyết định, lệnh của người có thẩm quyền (Điều 119 BLTTHS năm 2015).

Nếu người có chức vụ quyền hạn trong việc bắt, giữ hoặc giam người nhưng lại thực hiện không đúng theo quy định của pháp luật về bắt, giữ, giam người và hành vi đó không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 377 Bộ Luật hình sự thì đều thuộc hành vi khách quan của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật. Nói cách khác, hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật chỉ được coi là hành vi khách quan của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật khi hành vi này không thỏa mãn dấu hiệu của các hành vi được quy định tại khoản 1, Điều 377 BLHS.

Các trường hợp quy định tại Khoản 1, Điều 377 BLHS (Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật)
a) Không ra quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của luật;
b) Ra lệnh, quyết định bắt, giữ, giam người không có căn cứ theo quy định của luật;
c) Không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của luật;
d) Thực hiện việc bắt, giữ, giam người không có lệnh, quyết định theo quy định của luật hoặc tuy có lệnh, quyết định nhưng chưa có hiệu lực thi hành;
đ) Không ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam dẫn đến người bị tạm giữ, tạm giam bị giam, giữ quá hạn. 
Ví dụ: Bắt người khi đã có lệnh của Thủ trưởng cơ quan CSĐT nhưng tiến hành bắt không đúng thủ tục như bắt người vào ban đêm (sau 22 giờ) mà không thuộc trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang; lập biên bản không theo đúng quy định (không có người chứng kiến); bắt sai đối tượng…

Một số lưu ý:

- Người phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật có thể thực hiện cả ba hành vi: bắt, giữ, giam người, nhưng cũng chỉ có thể thực hiện một hoặc hai trong ba hành vi đó. Do các hành vi này có cùng một tính chất nên nhà làm luật quy định chung trong cùng một điều luật với tên tội danh gồm nhiều hành vi khác nhau, tương tự như “Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm” ( Điều 191 BLHS); “Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự” (Điều 304 BLHS)... Đối với cùng một người bị xâm hại, nếu người phạm tội thực hiện đầy đủ cả 3 hành vi thì xử lý về một tội Bắt, giữ, giam người trái pháp luật (nêu đầy đủ cả 3 hành vi) và chỉ áp dụng một hình phạt đối với họ (không thuộc trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều tội); nếu người phạm tội chỉ thực hiện hành vi bắt, thì xử lý về tội Bắt người trái pháp luật; nếu thực hiện hai hành vi bắt, giữ thì xử lý về tội Bắt, giữ người trái pháp luật.

- Cấu thành cơ bản của tội phạm không quy định hành vi bắt, giữ người trong khoảng thời gian bao lâu thì mới bị xử lý hình sự. Tuy nhiên, trong thực tiễn xử lý đối với hành vi này, cần cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi gây ra để đánh giá, xem xét xử lý trách nhiệm hình sự. Nếu việc bắt, giữ trái pháp luật xảy ra trong thời gian quá ngắn, do nhầm lẫn (như bắt nhầm người phạm tội quả tang…) và không có hậu quả đáng kể xảy ra thì không xử lý hình sự mà xử lý bằng pháp luật khác đối với người thực hiện hành vi phạm này. Như vậy, cũng hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 2, Điều 8 của BLHS, những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và bị xử lý bằng các biện pháp khác.

- Hậu quả của hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật trước hết là gây ra việc một người bị bắt, bị giữ hoặc bị giam trái pháp luật. Ngoài ra, hành vi này có thể gây ra những hậu quả khác cho người bị hại hoặc cho gia đình người bị hại (do bị bắt, giam oan mà người bị bắt uất ức tự sát; bị tra tấn gây thương tích; làm cho gia đình bị hại thiệt hại nặng nề về kinh tế do mất nguồn thu nhập chính...). Tuy nhiên hậu quả của tội phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc, nếu có thì đây là dấu hiệu để định khung hình phạt.

- Tội phạm được xem là hoàn thành kể từ khi người phạm tội có hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật. Nếu người phạm tội có ý định bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật đã chuẩn bị phương tiện, địa điểm, lực lượng để thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt được người bị hại thì tuỳ trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt. 

- Hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo quy định tại Điều 377 BLHS là trường hợp đặc biệt, áp dụng đối với chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn so với trường hợp quy định tại điều luật này.

Tham khảo: Căn cứ tạm giam, bắt bị can tạm giam Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự

3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể thực hiện tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật có thể là bất kì ai (công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch). Chủ thể của tội này cũng có thể là người có chức vụ quyền hạn được bắt, giữ, giam người khác.

Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự: Khoản 1, Điều 12 Bộ luật Hình sự quy định người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Khoản 2, Điều 12 quy định một số tội phạm người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng không bao gồm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật. Do đó, độ tuổi chịu TNHS đối với tội danh này là người từ đủ 16 tuổi trở lên.

Chủ thể thực hiện tội phạm phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự bao gồm năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi. Thiếu một trong hai năng lực này, người đó bị coi là không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc bị hạn chế năng lực TNHS và được loại trừ TNHS theo Điều 21 Bộ luật hình sự.

4. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ mức độ nguy hiểm do hành vi bắt, giữ, giam người trái pháp luật, nhìn thấy trước hậu quả gây tổn hại đến thân thể, quyền tự do của nạn nhân nhưng vẫn mong muốn tội phạm xảy ra.

Động cơ, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của tội phạm. Người phạm tội phạm tội có thể vì nhiều động cơ và mục đích khác nhau. Ví dụ: Bắt giữ để đòi nợ, để tra khảo lấy thông tin hoặc giam người do nghi ngờ người đó trộm cắp tài sản... 

Nếu bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật vì mục đích thực hiện một tội phạm khác thì có thể bị truy cứu về tội có dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm. Ví dụ, người bắt, giữ, giam người khác để đem bán thì người phạm tội phải chịu TNHS về tội mua bán người (Điều 150) hay nhằm mục đích chiếm giữ người dưới 16 tuổi thì người phạm tội sẽ bị truy cứu về tội chiếm giữ người dưới 16 tuổi (Điều 153). 

Trường hợp thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật do thiếu trách nhiệm hoặc do trình độ nghiệp vụ yếu thì người có hành vi đó không phạm lỗi cố ý và do đó không đủ yếu tố cấu thành tội phạm này. Tùy trường hợp cụ thể mà hành vi của người phạm tội có thể cấu thành tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng hoặc bị xử lý kỷ luật hoặc xử lý hành chính.

II. Khung hình phạt đối với tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

 Khoản 1 (Phạm tội ít nghiêm trọng):

Phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, trừ trường hợp phạm tội Chiếm đoạt người dưới 16 tuổi (Điều 153) và tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều 377)

Khoản 2 (Phạm tội nghiêm trọng):

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Phạm tội có tổ chức: là trường hợp có nhiều người cố ý cùng bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau, vạch kế hoạch để thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, dưới sự điều khiển thống nhất của người cầm đầu. Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật có tổ chức là một hình thức đồng phạm, có sự phân công, sắp đặt vai trò của những người tham gia, trong đó mỗi người thực hiện một hoặc một số hành vi và phải chịu sự điều khiển của người cầm đầu.

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật và hành vi phạm tội liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của họ. Người phạm tội có lợi dụng chức vụ để phạm tội thì mới bị coi là có tình tiết tăng nặng. Nếu tội phạm do họ thực hiện không liên quan gì đến chức vụ, quyền hạn của họ thì dù họ có chức vụ, quyền hạn thì cũng không thuộc trường hợp phạm tội này.

Ví dụ: 

- Cháu A 17 tuổi, con của B và C bỏ nhà đi. Nghi ngờ cháu D là bạn của A biết nơi ở của A nên B, C đã mua chuộc hai cán bộ công an phường N.K là Bùi Văn L và Nguyễn Văn H bàn bạc việc bắt cháu D về trụ sở công an phường để tra khảo nhằm khai chỗ ở của cháu A. Khoảng 12 giờ 15 ngày 22/9/2001, cháu D trên đường đi học bằng xe máy, khi đến gần trụ sở công an phường N.K thì bị Y, là con của B và C, đấm vào mặt làm cháu D bị ngã xe; cùng lúc đó L và H dùng xe jeep từ trụ sở công an phường ra bắt cháu D về trụ sở tra khảo buộc cháu D phải khai ra chỗ ở của cháu A. Như vậy, L và H có tình tiết tăng nặng là lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

- Đặng Quang Ph là Đại biểu Hội đồng nhân dân phường, vì nghi ngờ cháu H trộm cắp hai chiếc điều khiển tivi của nhà mình, nên Ph đã bắt cháu H tra khảo nhằm buộc cháu H phải nhận đã trộm cắp tài sản của Ph. Mặc dù có chức vụ nhưng khi bắt cháu H, Ph không lợi dụng chức vụ của mình để phạm tội nên không thuộc trường hợp bắt, giữ người do có lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

c) Đối với người thi hành công vụ: là trường hợp bắt, giữ hoặc giam người thực hiện một nhiệm vụ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao phó. Nhiệm vụ được giao có thể là đương nhiên do nghề nghiệp quy định như: chiến sĩ công an làm nhiệm vụ bảo vệ, cán bộ thuế thu thuế, bác sĩ điều trị bệnh nhân tại bệnh viện, thầy giáo hướng dẫn học sinh tham quan… Cũng được coi là thi hành công vụ đối với những người tuy không được giao nhiệm vụ nhưng họ tự nguyện tham gia vào việc giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong một số trường hợp nhất định như: đuổi bắt người phạm tội bỏ trốn; can ngăn, hòa giải những vụ đánh nhau nơi công cộng…

Người bị bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật phải là người thi hành nhiệm vụ đúng pháp luật, nếu thi hành nhiệm vụ trái pháp luật mà bị bắt, giữ hoặc giam trái pháp luật thì không thuộc trường hợp phạm tội này. Ví dụ: một người tự xưng là công an đòi khám nhà của người khác. Chủ nhà yêu cầu xuất trình lệnh khám nhà, nhưng người này không đưa nên chủ nhà và những thành viên trong gia đình đã bắt, giữ. Điều luật chỉ quy định “đối với người thi hành công vụ” mà không quy định “đối với người đang thi hành công vụ” nên trường hợp phạm tội này bao gồm cả người đang thi hành công vụ và người đã hoặc sẽ thi hành công vụ mà bị bắt giữ, giữ hoặc giam trái pháp luật (vì lý do công vụ của nạn nhân).

d) Phạm tội 02 lần trở lên: Là trường hợp hai lần trở lên thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, có thể là hai lần bắt, hai lần giữ hoặc hai lần giam người trái pháp luật trở lên, nhưng cũng có thể một lần bắt, một lần giữ, hoặc một lần giam người trái pháp luật, nhưng chỉ đối với một người bị hại xảy ra nhiều thời điểm khác nhau. Mỗi lần thực hiện hành vi đã cấu thành tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật. Nếu có hai lần bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, trong đó có một lần hành vi không cấu thành tội phạm thì không thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần.

Ví dụ:

- A bắt B để buộc B phải trả tiền cho A, B hứa sẽ trả, nên A thả B ra. Do không thấy B trả tiền nên A lại bắt B lần thứ hai để khống chế buộc B phải trả tiền cho mình. 

- Ngày 12/7/2000, Phạm Ngọc T, sinh ngày 1/12/1984 bắt, giữ Nguyễn Văn D. Ngày 10/5/2001, T lại bắt giữ D lần thứ hai. Trong hai lần bắt, giữ người trái pháp luật của T có một lần T chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nên T không bị coi là phạm tội nhiều lần.

đ) Đối với 02 người trở lên: Là trường hợp bắt, giữ hoặc giam từ hai người trở lên cùng một lần hoặc nhiều lần khác nhau. Trong số những người bị bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, có thể có người chỉ bị bắt, có thể có người chỉ bị giữ, có người chỉ bị giam, nhưng cũng có thể có người vừa bị bắt, vừa bị giữ lại vừa bị giam. Nếu trong số những người bị bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật có người thi hành công vụ thì người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tình tiết “đối với người thi hành công vụ” ngoài tình tiết đối với 02 người trở lên.

Ví dụ: tháng 7/2000, Vũ Khắc X bắt Đào Văn T và Đỗ Văn K. Đến tháng 3/2001, X lại bắt Trần Văn H.

e) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

g) Làm cho người bị bắt, giữ, giam hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn. Hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn được hiểu là người bị bắt, giữ, giam hoặc gia đình họ bị mất toàn bộ hoặc phần lớn tài sản, mất hoặc giảm thu nhập, không bảo đảm được nhu cầu sinh sống tối thiểu cho người đó và gia đình của họ kể từ lúc bị xâm hại, đặc biệt đối với trường hợp người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật là lao động chính, có nhiều người phụ thuộc như con nhỏ, cha mẹ già. Hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn đó phải xuất phát từ nguyên nhân là do bị bắt, giữ, giam trái pháp luật nên người bị bắt, giữ, giam hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn.

h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

Khoản 3 (Phạm tội rất nghiêm trọng)

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm: Làm người bị bắt, giữ, giam chết hoặc tự sát; Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm của người bị bắt, giữ, giam; Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

Về hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

III. Một số vướng mắc đối với tội Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

- Điều luật quy định ba hành vi phạm tội: hành vi bắt người trái pháp luật, hành vi giữ người trái pháp luật và hành vi giam người trái pháp luật. Các hành vi này đều là hành vi xâm phạm quyền tự do thân thể của người khác nhưng khác nhau ở hình thức thể hiện cụ thể. Hiện nay, thực tiễn còn tồn tại tranh luận về việc định tội danh đối với trường hợp một người hay nhiều người thực hiện một, hai hoặc cả ba hành vi phạm tội.

Ví dụ: A, B có hành vi bắt, trói để giữ C trong thời gian 30 phút. Việc định tội của A và B còn có nhiều quan điểm. Quan điểm thứ nhất, A và B phạm tội bắt giữ người trái pháp luật, bởi vì cả hai hành vi bắt người và hành vi giữ người có liên quan chặt chẽ với nhau, hành vi này là tiền đề cho hành vi kia vì vậy, theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo, chỉ xử lý đối với A và B về tội bắt giữ người trái pháp luật, và không tổng hợp hình phạt khi xét xử. Quan điểm thứ hai, A và B phạm tội bắt người trái pháp luật và tội giữ người trái pháp luật bởi vì A và B đã thực hiện hai hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm của tội "Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật", đây là tội ghép, do vậy cần xử lý A và B hai tội danh nêu trên.

Quan điểm: nếu người phạm tội chỉ có hành vi bắt người trái pháp luật mà không có hành vi giữ hoặc giam người trái pháp luật thì chỉ định tội là bắt người trái pháp luật. Áp dụng tương tự như vậy đối với việc định tội là giữ người trái pháp luật hay giam người trái pháp luật. Nếu người phạm tội vừa có hành vi bắt, vừa có hành vi giữ người trái pháp luật mà không có hành vi giam người trái pháp luật thì định tội bắt giữ người trái pháp luật. Áp dụng cách hiểu tương tự để định tội bắt giam người trái pháp luật. Nếu người phạm tội có cả ba hành vi bắt, giữ và giam người trái pháp luật thì định tội bắt giữ và giam người trái pháp luật (không có dấu phẩy và liên từ hoặc). Bởi vì, nếu mỗi hành vi phạm tội được áp dụng một lần, thì sẽ gây bất lợi cho các bị cáo khi phải áp dụng hai, ba lần khi có hai, ba hành vi phạm tội trong cùng một điều luật. Tuy nhiên, nếu so sánh một người thực hiện một hành vi so với một người thực hiện hai hay cả ba hành vi phạm tội thì rõ ràng trường hợp sau nguy hiểm hơn nhưng cũng chỉ áp dụng một lần là chưa bảo đảm nguyên tắc công bằng trong luật hình sự. Do vậy, khi quyết định hình phạt, cần chú ý vấn đề lượng hình và cá thể hoá TNHS của người phạm tội.

- Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định cụ thể một người (hay nhiều người) có hành vi bắt, giữ hay giam người trái pháp luật trong thời gian bao lâu mới bị coi là phạm tội hay bị coi là trái pháp luật và xâm phạm đến quyền tự do thân thể của công dân, từ đó dẫn đến nhiều quan điểm khác nhau trong giải quyết vụ án.

Ví dụ: D, E có hành vi bắt, giữ F trái pháp luật trong thời gian 10 phút (hoặc 15 phút, 30 phút, 45 phút…) nhưng chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng thì trường hợp này hành vi của D và E có cấu thành tội bắt giữ người trái pháp luật?

Do đó cần có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, tránh dẫn đến việc nhận thức và áp dụng không thống nhất trong một số vụ án cụ thể. Theo đó, để bảo đảm quyền con người, bảo vệ quyền tự do thân thể của công dân, duy trì trật tự xã hội, pháp luật cũng như tránh bỏ lọt tội phạm và người phạm tội nên quy định chỉ cần người phạm tội có hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là đã cấu thành tội này chứ không cần quy định phải thời gian bao lâu.

- Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định việc bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, tuy nhiên không có hướng dẫn thế nào là tính “trái pháp luật”. Trên thực tế hành vi này thường bị nhầm lẫn với các hành vi vi phạm thông thường và không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhất là những hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng. Do đó, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể theo hướng tính “trái pháp luật” trong hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là hành vi vi phạm các quy định về căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục bắt, giữ hoặc giam người được quy định trong Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Xử lý vi phạm hành chính./.

Minh Hùng (Tổng hợp)

Bài liên quan

Ý KIẾN

Tổng số
Tên

Anti Virus,11,Âm thanh,4,Bảng lương,32,Bảo hiểm,6,Biểu mẫu,18,Bình luận BLHS,26,Bộ Luật,49,Calendar,9,Cán bộ công chức,44,CCCD,1,CMND,15,Cư trú,19,Dân sự,10,Doanh nghiệp,24,Đất đai - Nhà ở,18,Đầu tư - Đấu thầu,23,Ebook,11,Game,4,Giao thông,54,Giấy tờ xe,32,Hệ thống,9,Hình ảnh,15,Hình sự,18,học Tiếng Anh,9,Hộ khẩu,8,Hôn nhân Gia đình,13,Khai sinh,9,Kinh nghiệm pháp lý,9,Lao động,16,Luật cơ bản,93,Luật thuế,21,Luật tiếng Anh,59,Nghĩa vụ quân sự,10,Phần mềm điện thoại,15,Phần mềm PC,102,Quyết định,1,Tải file,22,Thanh tra - Khiếu nại tố cáo,3,Thủ thuật Facebook,18,Thủ thuật Zalo,2,Thủ tục hành chính,77,Tố tụng hình sự,12,Trắc nghiệm,15,Trực tuyến,6,Văn bản,2148,Văn phòng,15,Video,4,Xây dựng,11,Xử phạt,3,
ltr
item
Tra cứu pháp luật - Thủ Tục Hành Chính - Thủ thuật phần mềm: Bình luận tội bắt giữ, giam người trái pháp luật Điều 157 Bộ luật hình sự
Bình luận tội bắt giữ, giam người trái pháp luật Điều 157 Bộ luật hình sự
Bình luận khoa học tội "Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật", quy định tại Điều 157 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhq6S4Cxe92WeESQlkadvvarqc_hJQfeKd71PUc66OE_aaAWveeEPVGoA1s5rVBsKd9Bc9a5pn7lZC-2DS36Af2HnYvSXrM__4ggt1kyi0Ta3h_RJ-HP6q7FpAXT0cgdNsW8TbED5XQ3ra7oEnPzNYi4sDCmpq3uVoSBCRnumdXd2AgDNPWj1KYiK3K/w200-h140/nhot_New.png
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhq6S4Cxe92WeESQlkadvvarqc_hJQfeKd71PUc66OE_aaAWveeEPVGoA1s5rVBsKd9Bc9a5pn7lZC-2DS36Af2HnYvSXrM__4ggt1kyi0Ta3h_RJ-HP6q7FpAXT0cgdNsW8TbED5XQ3ra7oEnPzNYi4sDCmpq3uVoSBCRnumdXd2AgDNPWj1KYiK3K/s72-w200-c-h140/nhot_New.png
Tra cứu pháp luật - Thủ Tục Hành Chính - Thủ thuật phần mềm
https://www.tracuuphapluat.info/2022/05/binh-luan-toi-bat-giu-giam-nguoi-trai-phap-luat.html
https://www.tracuuphapluat.info/
https://www.tracuuphapluat.info/
https://www.tracuuphapluat.info/2022/05/binh-luan-toi-bat-giu-giam-nguoi-trai-phap-luat.html
true
1624770636553188390
UTF-8
Loaded All Posts Not found any posts Xem tất cả bài viết Đọc tiếp Trả lời Hủy trả lời Xóa By Trang chủ PAGES Bài viết View All RECOMMENDED FOR YOU Chủ đề ARCHIVE Tìm kiếm với từ khóa ALL POSTS Not found any post match with your request Back Home Sunday Monday Tuesday Wednesday Thursday Friday Saturday Sun Mon Tue Wed Thu Fri Sat Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8 Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11 Tháng 12 Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8 Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11 Tháng 12 just now 1 minute ago $$1$$ minutes ago 1 hour ago $$1$$ hours ago Yesterday $$1$$ days ago $$1$$ weeks ago more than 5 weeks ago Followers Follow THIS PREMIUM CONTENT IS LOCKED STEP 1: Share to a social network STEP 2: Click the link on your social network Copy All Code Select All Code All codes were copied to your clipboard Can not copy the codes / texts, please press [CTRL]+[C] (or CMD+C with Mac) to copy Table of Content