Những vướng mắc về xác định tài sản chung của vợ, chồng trong Luật Hôn nhân và Gia đình

hon nhan gia dinhLuật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 còn có nhiều điểm chưa rõ ràng, dẫn đến nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau trong vấn đề liên quan đến tài sản tranh chấp của vợ, chồng...

Đâu là tài sản chung?

Thứ nhất, luật quy định “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra… trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ, chồng được thừa kế chung hoặc cho chung và những tài sản khác mà vợ, chồng có thỏa thuận là tài sản chung”. Theo quy định trên, nếu tài sản được đưa vào sử dụng chung nhưng không có thỏa thuận bằng văn bản thì có cho là “đã thỏa thuận nhập vào khối tài sản chung” được không?

Có hai quan điểm về vấn đề này.

Quan điểm thứ nhất: Tài sản mà vợ chồng đang quản lý, sử dụng chung (có trước hoặc sau thời kỳ hôn nhân) mặc dù do một người đứng tên nhưng không có văn bản thỏa thuận là tài sản riêng thì đó vẫn là tài sản chung; tài sản riêng của vợ hoặc chồng nhưng đã đưa vào khai thác, sử dụng chung là tài sản chung.

Quan điểm thứ hai: Tài sản riêng có trước khi kết hôn hoặc tài sản được thừa kế riêng, được cho riêng (do một người đứng tên) mặc dù được đưa vào khai thác, sử dụng chung nhưng không có văn bản thỏa thuận đưa vào tài sản chung thì vẫn là tài sản riêng.

Nếu nghiên cứu kỹ chế định về tài sản của vợ, chồng trong các quy định của pháp luật thì quan điểm hai có phần hợp lý hơn. Mặc dù khi kết hôn không ai làm văn bản thỏa thuận tài sản nào là chung, tài sản nào là riêng nhưng luật pháp đã quy định quyền sở hữu tài sản riêng của vợ, chồng. Nếu rõ ràng đó là tài sản riêng thì khi ly hôn, tòa phải tuyên chấp nhận mặc dù có thể làm ảnh hưởng đến lợi ích của một số người.

Cha mẹ cho đất, tính sao?

Một quy định khác là tranh chấp tài sản của vợ chồng liên quan đến người thứ ba. Do đặc điểm văn hóa và do phong tục, tập quán của nhiều địa phương, cha mẹ cho mượn, tặng hoặc cho con một phần đất để cất nhà ở khi người con lập gia thường chỉ thực hiện bằng lời nói hoặc hành vi. Khi vợ chồng người con ly hôn và tranh chấp tài sản thì việc xác định quyền sử dụng đất của người nào rất khó khăn.

Vì là những loại việc có tính phổ biến, để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ (số đông), TAND Tối cao có tổng kết và hướng dẫn tại Công văn số 16 năm 1999 như sau: “Trường hợp vợ, chồng sau khi kết hôn cất nhà ở trên đất của cha mẹ bên vợ (hoặc chồng) nhưng không có giấy tờ gì thể hiện là được cho tặng quyền sử dụng đất đó; khi ly hôn, cha mẹ bên vợ (hoặc chồng) nói là chỉ cho mượn đất nhưng nếu phần đất cất nhà ở riêng biệt với đất cha mẹ đang sinh sống hoặc trên cùng thửa đất nhưng đã có ranh giới, khuôn viên rõ ràng. Vợ chồng cất nhà sinh sống, ổn định, lâu dài, xây dựng các công trình trên đất cha mẹ biết nhưng không phản đối… thì tòa xác định quyền sử dụng đất gắn liền nhà hoặc quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng và chia theo quy định nhưng có xét đến công sức đóng góp của mỗi bên...”.

Nhiều ý kiến cho rằng hướng dẫn này nay không còn phù hợp. Bởi lẽ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã có các điều luật mang tính nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em. Thứ nữa, tập quán chỉ được áp dụng khi luật chưa quy định hoặc không trái với quy định của pháp luật. Ở đây, nếu áp dụng tập quán để xác định cha mẹ đã cho tặng con quyền sử dụng đất là trái với quy định tại các điều 122, 124, 467 BLDS. Do đó, nếu vợ, chồng không có giấy tờ tặng cho tài sản, không được cha mẹ thừa nhận là đã tặng cho mà việc chiếm hữu tài sản chưa được 30 năm thì tài sản đó vẫn thuộc quyền của cha mẹ...

Do vậy, TAND Tối cao nên có nghị quyết hướng dẫn về vấn đề này.

18 comments

Nặc danh
15/10/11 11:28 Trả lời

không hiểu tại sao có mấy cái luật mà cứ lằng nhằng chẳng mang tính thống nhất tí nào????theo tôi, cứ lấy giấy chứng nhận làm gốc để giải quyế tranh chấp. ví dụ : giờ đấy tối thấy muốn mua hoặc đứng ten một ngoi nhà thì cơ quan chức nang đòi hỏi ngừoi muốn đứng tên phại có giấy xác nhận độc thân hoặ giấy chứng nhận kết hôn, nếu đã kết hôn thì bắt cả hai ngừoi đồng đứng tên, còn nếu muốn đây là tài sản riếng của vợ hoặc chồng(có nghỉa là chỉ một ngừoi đứng tên)thì phải bắt ngừoi còn lại xác nhận việc đó rồi mới cấp giấy cn đứng tên sở hữu cho ngừoi còn lại. vaậy khi xảy ra tranh chấp thì cứ căn cứ vào đó mà xử thì có nghĩa là ai đứng ten thì của riêng ngừoi đó. vậy không rỏ ràng đen trắng à????!!!!!
còn nếu cái gì cũng nói phải chứng minh nguồn gốc vậy lấy ví dụ toi nói toi có hùng tiền với ban toi mua nhà( mac dù thật sự là không) rồi đi kiện , nếu bạn tôi ko chứng minh đuoc nguồn gốc can nhà tren thì sao , há chẳng phải là VÔ LÝ À????????!!!!!!!

Nặc danh
8/11/11 23:33 Trả lời

truoc khi cuoi chong toi da co 1 manh dat dung ten anh.sau khi cuoi, sinh con chung toi moi xay nha. Tien xay nha het hon 500trieu.Trong do tien cua hai vo chong chi co 36 trieu, bo de toi cho vay 50 trieu, me chong toi noi cho hai vo chong 200 trieu,con lai cho vay.Cua cai, do dung trong nha sau khi xay nha xong,don ra o rieng moi mua sam. Chung toi ket hon duoc 4 nam, con toi nam nay duoc hon hai tuoi. Do cuoc song khong the hoa hop, khong the keo dai hon nua,chung toi li hon thi tai san se duoc chia nhu the nao? Ai se duoc quyen nuoi con? (Toi va chong toi deu co viec lam on dinh. Toi day hoc l­uong 2,8trieu/thang,chong toi la cong nhan dien luc luong)
3,5 trieu/ thang.

@Nặc danh*Luật HNGĐ quy định như sau
- Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng.
- Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.
- Tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.
- Nếu không có chứng cứ chứng minh TS mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì TS đó là TS chung.
- Tài sản riêng của vợ, chồng gồm TS mà mỗi người có trước khi kết hôn; TS được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; TS được chia riêng cho vợ, chồng; đồ dùng, tư trang cá nhân.
- Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.
* Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn
- Chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.
- Chia TS chung được giải quyết theo các nguyên tắc:
a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.
- Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
* Chia quyền sử dụng đất của vợ, chồng khi ly hôn (Điều 95)
- Quyền sử dụng đất riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.
- Việc chia quyền sử dụng đất chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:
a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thoả thuận của hai bên; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;
b) Trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;
c) Đối với đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 95 nói trên;
d) Việc chia quyền sử dụng đối với các loại đất khác được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật dân sự.
* Trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng có thể chia để sử dụng thì khi ly hôn được chia theo quy định tại Điều 95; nếu không thể chia được thì bên được tiếp tục sử dụng nhà ở phải thanh toán cho bên kia phần giá trị mà họ được hưởng.
* Trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên đã được đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn, nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà, nhưng phải thanh toán cho bên kia một phần giá trị nhà, căn cứ vào công sức bảo dưỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà.

@Nặc danh(Tiếp theo)
* Sau khi ly hôn, vợ, chồng có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Về nguyên tắc, con dưới 3 tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác.
- Theo yêu cầu của 1 hoặc cả 2 bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con và phải tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên.
- Khi ly hôn, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên và không có tài sản để tự nuôi mình có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Mức cấp dưỡng cho con do cha, mẹ thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
Bạn tham khảo các quy định trên liên hệ với thực tế của bạn để có hướng giải quyết

Nặc danh
14/11/11 00:40 Trả lời

Xin Hoi:
Toi co 1 ngoi nha ma toi la chu so huu.( Dang con doc than )
Neu sau nay toi ket hon ma phai phan chia tai san thi ngoi nha ma toi dang so huu se la tai san rieng hay tai san chung cua Vo Chong.
Xin Cam on.

15/11/11 20:57 Trả lời

@Nặc danh*Luật Hôn nhân gia đình quy định như sau
- Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
- Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.
- Tài sản riêng của vợ, chồng gồm TS mà mỗi người có trước khi kết hôn; TS được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; TS được chia riêng cho vợ, chồng; đồ dùng, tư trang cá nhân.
- Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.
Do vậy ngôi nhà là tài sản riêng của bạn. Ngôi nhà này là tài sản chung khi vợ chồng bạn có thoả thuận đó là tài sản chung.

Nặc danh
25/11/11 09:55 Trả lời

Năm 1999 tôi có mua 1 căn nhà trước khi kết hôn, đến năm 2000 thì tôi kết hôn, 8 năm sau tức là năm 2008 tôi đã bán đi 1/2 đất để xây lại nhà và tôi đã bổ sung tên của chồng tôi vào sổ đỏ. Tôi được biết thì khi ly hôn tài sản đó sẽ được chia làm đôi. Nhưng tôi vẫn còn giữ lại hợp đồng chuyển dịch nhà ở đã qua công chứng mà khi tôi mua, lúc đó tôi chưa kết hôn, thì bây giờ ly hôn tôi muốn biết tôi có được chia phần nhiều hơn hay không?

Nặc danh
5/3/12 19:31 Trả lời

Tôi lập gia đình năm 2003, năm 2005 vợ chồng tôi được bên ngoại cho một mảnh đất có diện tích là 96m vuông(mảnh đất này chỉ mang tên vợ tôi, cấp năm 2005).Cùng lúc đó vợ chồng chị của vợ tôi cũng được cho một mảnh đất như vậy nhưng với diện tích lớn hơn.Năm 2006,anh chị vợ tô làm nhà trên mảnh đất mang tên vợ tôi. Năm 2007 tôi làm nhà trên mảnh đất mang tên chị vợ tôi.
Xin hỏi : 1-bây giờ tôi ly hôn với vợ tôi thì tài sản sẽ phân chia như thế nào.?
2- tài sản đất mang tên vợ tôi có được coi là tài sản chung của vợ chồng tôi hay không?
3- Căn nhà mà vợ chồng tôi xây dựng (trên đất của chị vợ tôi, đã sử dụng từ năm 2008 đến nay)có phải là tài sản chung hay không?
Tôi sẽ được chia tài sản đó như thế nào?

@Nặc danh*Luật Hôn nhân gia đình quy định:
- Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
- Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.
- Tài sản riêng của vợ, chồng gồm TS mà mỗi người có trước khi kết hôn; TS được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; TS được chia riêng cho vợ, chồng; đồ dùng, tư trang cá nhân.
- Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.
Do đó, Mảnh đất do vợ bạn đứng tên là tài sản của vợ bạn nếu giữa 2 vợ chồng không có thỏa thuận đó là tài sản chung.
- Căn nhà mà vợ chồng bạn xây dựng trên mảnh đất của vợ chồng chị vợ là tải sản chung. Nếu ly dị thì vợ chồng bạn tự thỏa thuận phân chia căn nhà đó (Ví dụ: bên nào được hưởng căn nhà thì phải bù tiền lại cho bên không được hưởng là bao nhiêu tiền). Nếu không thỏa tuận được thì Tòa án sẽ định giá và theo nguyên tắc là chia đôi tài sản, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên

Nặc danh
1/5/12 10:46 Trả lời

chào luật sư!vì muốn khấu trừ lại thuế nên em nhờ công ty bên nhà vợ đứng ra mua giúp 1 ô tô.Bây giờ,khi ly hôn người bên công ty không muốn trả lại để làm tài sản chung.em phải làm như thế nào?

hung vt
14/5/12 14:55 Trả lời

chồng tôi và tôi đăng ký kết hôn theo nghị định 77/2001/N Đ-CP hôn nhân có hiệu lực, từ ngày 10 tháng 12 năm 1992 ngày đăng ký 31 tháng 12 năm 2002, bây giờ tôi mới biết chồng tôi cũng có đăng ký kết hôn với người phụ nữ khác nhưng trước thời gian ngày tôi đăng ký. vậy cho tôi hỏi giấy đăng ký kết hôn của tôi có giá trị về pháp lý không?

Hỏi : Chúng tôi xây dụng được 16 năm từ 1995 nhưng do không thể hòa hợp với nhau được nên vợ tôi đòi ly hôn năm 2012 . Hiện chung tôi ở trên đất bố mẹ để lại , mới sang tên sổ đỏ cho chúng tôi từ 2011 - vậy vợ tôi đòi chia đất có đúng pháp luật không ? Rất mong được sự tư vấn của pháp luật .

Hiện tôi nuôi hai con nhỏ , vậy tôi có quyền nuôi cả ba đứa không ?
Trước kia xây nhà vợ tôi có vay , tôi có bỏ tiền ra xây dựng , nhưng tất cả nợ là tôi trả , vậy khi ly hôn vợ tôi đòi chia đất có đúng pháp luật không ?

2/3/14 23:12 Trả lời

thuộc của bạn, vì tài sản này hình thành trc thời kì hôn nhân

2/3/14 23:14 Trả lời

Có, Vì theo quy định thì khi bạn cho chồng bạn đứng tên trong sổ đỏ nghĩa là đã đồng ý nhập vào khối tài sản chung của 2 người, nhưng khi phân chia bạn có dủ cơ sở chứng minh nguồn gốc tài sản đó thì tòa sẽ phân chia cho bạn nhiều hơn vì công sức đòng góp của bạn

2/3/14 23:19 Trả lời

mảnh đất mà bên ngoại cho vợ chồng bạn khi đó chỉ đứng tên vợ bạn thì đó là tài sản riêng của vợ bạn thôi, còn lại những tài sản j hình thành trong thời kì hôn nhân của 2 người sẽ chia đôi, nếu bên nào có chứng cứ chứng minh đc công sức đóng góp thì sẽ đc chia nhiều hơn nhưng vẫn fai đảm bảo quyền lợi cho phụ nữ và trẻ nhỏ.
Căn nhà mà vợ chồng bạn xây dựng trên đất của chị vợ là tài sản chung của 2 người vì nó đc hình thành trong thời kì hôn nhân

2/3/14 23:20 Trả lời

khởi kiện ra tòa đòi trả lại tài sản, nhưng bạn cần có căn cứ chứng minh tiền bạn bỏ ra và công ty đó chỉ dứng tên mua giúp

2/3/14 23:21 Trả lời

đất sang tên sổ đỏ cho 2 nguwofi nghĩa là tài sản này đc hình thành trong thời kì hôn nhân và nó đc chia đôi

Đăng nhận xét

Lưu ý:
- Đóng góp ý kiến, nêu thắc mắc vào khung bên dưới bằng tiếng Việt có dấu, nếu không sẽ bị xóa.

- Nên đọc phần Hỏi đáp trước khi hỏi, những câu hỏi trùng nội dung có thể sẽ không trả lời

 
Trang chủGiới thiệu và Quảng cáoQuản lý WebMục lục WebsiteTrở lại đầu trang
© 2010-2013 Tra cứu pháp luật - Thủ thuật phần mềm